Archive for the ‘Bài nghiên cứu nhỏ’ category

Cần xem lại khái niệm “hội” khi xây dựng Luật về hội

Tháng Sáu 14, 2014
Nhận thức về hội ở Việt Nam hiện nay còn là đề tài gây ra nhiều tranh luận, chưa thực sự thống nhất. Trong một thời gian dài, cùng với khái niệm Xã hội dân sự, hội được coi là vấn đề khá nhạy cảm, nên chưa được nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chính vì vậy, dưới góc độ học thuật, việc nghiên cứu về hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 là điều cần thiết.
Ảnh: quyền tự do lập hội là một quyền quan trọng của nhân dân (nguồn: iSEE)
Ảnh: quyền tự do lập hội là một quyền quan trọng của nhân dân (nguồn: iSEE)

Đi tìm một khái niệm mới về hội, trong thời gian qua, các học giả, các chuyên gia pháp luật và cán bộ làm công tác hội đã tranh luận sôi nổi ở nhiều diễn đàn, đưa ra nhiều quan điểm trái chiều với những cách thức tiếp cận đa diện. Cho đến nay, ở Việt Nam, xét ở khía cạnh học thuật và pháp lý, chưa có khái niệm hội theo một cách nhìn toàn diện, thống nhất.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý đều đồng tình rằng, hội là một trong những thành tố của Xã hội dân sự. Chính vì vậy, việc nghiên cứu khái niệm về hội cũng như các vấn đề liên quan đến hội cần phải đặt trong tổng thể của một tập hợp các chủ thể xã hội dưới khái niệm chung là Xã hội dân sự; đồng thời cần xem xét quan hệ của “hội” với tư cách là một thành tố trong Xã hội dân sự với các thành tố khác. Quan sát việc tranh luận về khái niệm, định nghĩa về hội trong thời gian qua, có thể thấy rằng, việc đưa ra khái niệm về hội là công việc hết sức khó khăn, do những đặc thù như sau:

Thứ nhất, về mặt ngôn ngữ: hội là từ được quen dùng ở Việt Nam để chỉ các tổ chức quần chúng, khi mà trong các văn bản của Đảng và các sách báo xuất bản trước đây chúng ta vẫn thường thấy xuất hiện cụm từ “hội quần chúng”. Mức độ sử dụng ngôn ngữ “quen” đến mức, khó có thể sử dụng cụm từ nào mang ý nghĩa phổ biến của quốc tế để thay thế cho hội ở Việt Nam. Dịch ra tiếng Anh, hội sẽ tương đương với “Association”, nhưng khi tìm hiểu khái niệm này, người ta thấy rằng, nội hàm của hội theo cách hiểu ở Việt Nam không đồng nhất với nội hàm của khái niệm “Association”. Trong khi đó, các nước trên thế giới khi nói đến khu vực xã hội dân sự, người ta thường nhắc tới Tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, dù rằng, ở mỗi quốc gia có cách định nghĩa và diễn giải khác nhau.

Thứ hai, về cách tiếp cận khái niệm: hội được thế giới xem xét, nhìn nhận là một trong những thành tố của Xã hội dân sự trong mối quan hệ với nhà nước, thị trường. Trong khi đó, ở nước ta, hội được coi là một trong những thành tố của hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng.

Thứ ba, về yếu tố chủ quan của nhà làm luật: về ý nghĩa ngôn ngữ học, khái niệm hội đã đạt được sự thống nhất khi thể hiện trong các từ điển tiếng Việt. Nhưng khái niệm về hội mà trong thời gian qua được đưa ra xem xét, thảo luận, thực chất, là khái niệm ở khía cạnh pháp lý. Do đó, khi nhà làm luật muốn áp đặt ý chí của mình đến mức độ nào thì sẽ xuất hiện một khái niệm về hội phản ánh ý chí chủ quan ở mức độ đó. Ví dụ, khi muốn công dân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của dự thảo Luật về hội thì trong khái niệm hội sẽ xuất hiện đối tượng này; hoặc nếu nhà làm luật không muốn điều chỉnh các hội không có tư cách pháp nhân thì đối tượng này trong khái niệm hội sẽ bị loại trừ.

Qua việc nghiên cứu một số khái niệm do các tác giả Việt Nam đưa ra, có thể thấy, hội có những đặc điểm sau:

– Là tổ chức tự nguyện của quần chúng;

– Tập hợp của những người có cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích…;

– Hoạt động thường xuyên, liên tục;

– Không vì mục đích lợi nhuận;

– Mục đích hoạt động không trái với lợi ích dân tộc, tổ quốc và trong khuôn khổ pháp luật.

Với nhận thức như trên, hội theo cách hiểu của các tác giả Việt Nam không bao gồm các nhóm và tập thể tự nguyện khác do nhân dân tự nguyện bột phát, tức thời lập ra (các nhóm đó không có điều lệ, không có đóng góp vật chất, sức lực, trí tuệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, cố kết không chặt chẽ và không thường xuyên hành động). Trong khi đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức quần chúng trực thuộc (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) cũng là các hội quần chúng tự nguyện, nhưng được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, quan hệ chặt chẽ và trực tiếp hơn với đảng cầm quyền, chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của đảng cầm quyền, làm nòng cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng. Hội, theo quan niệm của Việt Nam, không bao gồm Đảng chính trị và các tổ chức tôn giáo.

Hiện nay, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội chỉ điều chỉnh đối với những hội có tư cách pháp nhân, có hội viên. Các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; các tổ chức giáo hội không thuộc sự điều chỉnh của quy định về hội. Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam vẫn còn chưa thực sự đồng thuận với quan niệm này của các nhà làm luật. Một số ý kiến cho rằng hội nên được hiểu bao gồm các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu… (trừ các quỹ, trung tâm do hội lập ra), các tổ chức phi chính phủ hay không? Trong khi có tác giả cho rằng hội bao gồm cả hội có hội viên và hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu…) thì hầu hết các tác giả khác lại đề xuất khái niệm, đặc trưng của hội có thêm yếu tố là có hội viên.

Theo quan điểm của chúng tôi, khi xây dựng Luật về Hội thời gian tới cần phải có cách hiểu đầy đủ về hội. Nếu loại trừ các tổ chức phi chính phủ, quỹ, viện, trung tâm độc lập thì có lẽ đã loại trừ đi một số thành tố quan trọng của bất cứ một Xã hội dân sự nào. Bên cạnh đó, nếu vẫn xem Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các thành tố của hệ thống chính trị thì vẫn nên tạo điều kiện cho phép thành lập các hội, tổ chức có tính chất tương tự nếu có đủ điều kiện như Luật định. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về hội như sau: “Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất ba cá nhân hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng. Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp nhân”./.

(more…)

Advertisements

Một số quan điểm về kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay

Tháng Năm 21, 2014

Xem tại địa chỉ:

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6033

 

 

Hôn nhân cùng giới và giá trị nhân văn của pháp luật

Tháng Năm 13, 2014

HÔN NHÂN CÙNG GIỚI VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA PHÁP LUẬT

Bài viết muốn cùng độc giả nhìn nhận lại vấn đề hôn nhân cùng giới trong bối cảnh xây dựng thể chế tại Việt Nam thời gian qua và gợi mở một số vấn đề cho thời gian tới.

Có thể nhận thấy trong bất kỳ thời đại nào, đời sống xã hội luôn có sự đa dạng, phong phú nhất định. Sự thể hiện cảm xúc, tình cảm hay xu hướng giới tính không nằm ngoài quy luật đó. Trước đây, chúng ta hầu như chỉ nhắc đến một xã hội với những gia đình là sự kết hợp giữa một nam và một nữ với mục đích chính là duy trì nòi giống. Khi đó, việc một người yêu người cùng giới tính là những điều rất kỳ lạ, thậm chí bị xem là bệnh hoạn. Thực tế đã cho thấy đây là những điều hết sức bình thường của xã hội mặc dù vẫn còn có những quan niệm kỳ thị, xa lánh…

Cho đến nay, rất nhiều tuyên bố của các tổ chức quốc tế, các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng người đồng tính nói riêng và người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) nói chung là những con người tự nhiên của xã hội, không phải là bệnh, không thể lây lan. Chính vì vậy, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bảo vệ quyền của người LGBT chính là nâng cao giá trị nhân văn, giá trị xã hội vốn có của pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến quyền của người LGBT là những vấn đề mới phát sinh trong xã hội, thường gặp nhiều rào cản với nhiều quan điểm khác nhau. Cũng do đó mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton đã xem quyền của người LGBT là một trong những thách thức về nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta[1]. Sự biến chuyển trong nhận thức cũng như hành động thực tế tại Việt Nam về vấn đề hôn nhân cùng giới thời gian cũng có những điểm tích cực rất đáng ghi nhận. (more…)

Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam

Tháng Ba 31, 2014

1. Pháp luật dân sự cấm việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính

Văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền của người chuyển giới rất ít. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân tại Điều 36, không quy định quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân. Theo đó, việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Để cụ thể hóa quy định này, ngày 05-08-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”). Như vậy, việc phẫu thuật của người liên giới tính đã có quy định, quy trình, thủ tục rõ ràng; những người đã hoàn thiện về mặt giới tính không được phẫu thuật chuyển giới (khoản 4, Điều 1). Mặc dù Nghị định nói trên không trực tiếp đề cập tới những người chuyển giới, nhưng vô hình trung đây là văn bản duy nhất tới thời điểm hiện tại có quy định một vấn đề của người chuyển giới. Quan điểm ngầm trong Nghị định này là “nếu có khuyết tật bẩm sinh thì mới được phẫu thuật, còn nếu chỉ là mong muốn thì cấm”. Điều đó có nghĩa là, khác với người đồng tính/song tính (pháp luật không có quy định cấm), người chuyển giới bị cấm phẫu thuật chuyển giới để có thể sống thật với bản thân mình.

Cũng cần chú ý rằng, thực ra cách dùng từ “xác định lại giới tính” trong Bộ luật dân sự và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP là không chính xác. Không có sự “lại” nào ở đây. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Việc nghĩ rằng họ cần phải “xác định lại giới tính” thể hiện sự đóng khung của xã hội trong khuôn khổ “trắng – đen” mà không thừa nhận tồn tại của sự đa dạng. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình sẽ nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông. Trong phần Nguyên tắc xác định lại giới tính (Điều 3, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP), có khoản 1 quy định rằng: “Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình”. “Đúng” ở đây nên được hiểu như thế nào? Một đứa trẻ liên giới tính không hoặc chưa có nhu cầu nhưng được cha mẹ cho đi phẫu thuật từ bé, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Còn một người chuyển giới mong muốn được chuyển đổi giới tính nhưng bị ngăn cấm, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Như vậy, đã có một sự mâu thuẫn ở đây, xã hội đã nói với người liên giới tính rằng “tôi thấy anh không ổn, anh cần thay đổi” và nói với người chuyển giới rằng “tôi thấy anh ổn rồi, anh không cần thay đổi” mà không cần biết liệu những người này có ổn thật hay là không và mong muốn thật sự của họ là gì. Đây là những bất cập mà pháp luật cần hoàn thiện trong thời gian tới. (more…)

Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới

Tháng Ba 21, 2014

1. Một số vấn đề chung về người chuyển giới

Khác với người đồng tính hay song tính, việc hiểu về người chuyển giới phải đề cập đến khái niệm bản dạng giới (gender identity). Người đồng tính, song tính liên quan đến khái niệm xu hướng tính dục, chỉ một người có tình cảm, nhu cầu yêu đương với một người cùng giới tính hay khác giới tính với mình. Trong khi đó, khái niệm bản dạng giới được hiểu là việc một người tự nhận mình mang một giới tính nào (có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra)[1]. Có thể hiểu khái quát, nếu một người sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính. Nếu người này có tình cảm với người khác giới tính với mình thì đó là người dị tính.

Tuy nhiên nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới (transgender)[2]. Một điều rất quan trọng là không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới. Có hai dạng người chuyển giới là: người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới)[3], người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới)[4] và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới)[5].

Nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0.1% đến 0.5% dân số[6]. Một điều tra về giám sát một số hành vi thiểu số trong xã hội ở Massachusetts (Mỹ) cho thấy có khoảng 0.5% người trong độ tuổi từ 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới[7]. Gần đây, trong các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tính dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0.3% dân số Mỹ là người chuyển giới[8]. Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới gặp nhiều khó khăn do sự kỳ thị xã hội khiến người chuyển giới không thể hiện hoặc công khai giới tính mong muốn của mình. Số liệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp từ 2.5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam[9]. Điều này có nguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn. Các yếu tố văn hóa, xã hội, quan niệm về vai trò giới và tình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế[10].

Trong xã hội, không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới. Dưới đây xin tóm tắt một số nhận thức sai lầm về người chuyển giới đang tồn tại trong xã hội hiện nay: (more…)

Một số kết quả nghiên cứu gần đây

Tháng Ba 19, 2014
  1. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số tháng 4 năm 2013.
  2. Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, tháng 6/2013.
  3. Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả), Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 5/2013.
  4. Một số vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 6/2013.
  5. Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013 (tác giả)
  6. Thực trạng áp dụng các quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 về vấn đề công khai cho nhân dân biết, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 12/2013 (tác giả)
  7. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số tháng 1/2014 (tác giả)
  8. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6007, ngày 10-02-2014
  9. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6008, ngày 12-02-2014
  10. Quyền kết hôn của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4, tháng 2/2014 (tác giả)
  11. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 2/2014.
  12. Đề tài: “Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Nghiệm thu đạt loại xuất sắc năm 2014.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

Tháng Sáu 7, 2013

Trương Hồng Quang*

 1. Dẫn nhập

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ, sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN). Tuy nhiên, nhiều quốc gia ASEAN chỉ mới chú ý đến chế định trách nhiệm sản phẩm trong thời gian gần đây. Chẳng hạn như Thái Lan mới ban hành Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm không an toàn vào năm 2008. Ngay cả ở quốc gia khai sinh ra pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là Hoa Kỳ thì cuộc tranh cãi về chế định pháp luật này vẫn chưa bao giờ kém sôi động. Những quan niệm khác nhau về phạm vi trách nhiệm, về căn cứ xác định trách nhiệm có những điểm khác nhau nhất định tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và hệ thống pháp luật của từng nước mặc dù bản thân chế định này được coi như là một hiện tượng pháp lý phổ biến. Có thể nói, những tranh luận về vấn đề trách nhiệm sản phẩm chính là sự thể hiện một cách rõ rệt nhất mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế với lợi ích của công chúng, lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, dù có bất kỳ cuộc tranh luận nào xung quanh chế định pháp luật này thì vẫn có được một sự thừa nhận chung: trách nhiệm sản phẩm là một công cụ pháp lý không thể thiếu để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại. Đầu năm 2010, Toyota mở đợt thu hồi kỷ lục 8,5 triệu chiếc trên toàn cầu, Nissaan thu hồi 500.000 chiếc, Huyndai thu hồi 500.000 chiếc, GM thu hồi 1,3 triệu chiếc và Honda cũng thu hồi 500.000 chiếc. Cơn địa chấn này của thị trường ô tô còn chưa lắng xuống thì nhà sản xuất ô tô Nhật Bản lại đứng trước nguy cơ phải thông báo thu hồi 218.000 xe Tundra. Theo Cơ quan an toàn giao thông quốc gia Mỹ (NHTSA), các xe Toyota Tundra sản xuất trong hai năm 2000 và 2001 có thể bị ảnh hưởng bởi hiện tượng ăn mòn khung xe. Tiếp đó, Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải Hàn Quốc đã yêu cầu Toyota tiến hành thu hồi 13.000 xe tại nước này do nguy cơ thảm sàn chẹt vào chân ga khiến xe tăng tốc ngoài kiểm soát. Những đợt thu hồi xe như này cho thấy sự cần thiết và tác động to lớn của vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Bài viết sau đây sẽ tìm hiểu những vấn đề cơ bản của chế định này. (more…)