Archive for the ‘Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học’ category

QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG DÂN THEO QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ HIẾN PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tháng Năm 6, 2013

Trương Hồng Quang*

 1. Quy định quốc tế về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân

Quyền tham gia quản lý Nhà nước là một trong những quyền chính trị quan trọng được ghi nhận từ lâu trên thế giới. Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về quyền chính trị và hiện nay cũng chưa có định nghĩa hay giải thích chính thức trong một văn kiện quốc tế về khái niệm quyền chính trị. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực là dân sự và chính trị. Mặc dù vậy, các quyền chính trị có thể được hiểu một cách đơn giản là các quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và gián tiếp vào công việc của nhà n­ước và xã hội, bao gồm cả việc thành lập và quản lý nhà nước (Chính phủ). Với cách hiểu này, nội hàm khái niệm quyền chính trị của công dân chỉ chủ yếu đề cập tới quyền về bầu cử để lựa chọn ra người thay mặt mình nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước; quyền ứng cử, tham gia vào cuộc đua để được cử tri/người dân lựa chọn vào bộ máy công quyền thực thi quyền lực nhà nước; và do sự phát triển của dân chủ, khái niệm quyền chính trị ngày càng được mở rộng bao gồm cả việc tham gia vào cùng với nhà nước quyết định các vấn đề chính trị, trọng đại của đất nước, như ban hành các chính sách có liên quan/ảnh hưởng tới quyền của người dân; quyết định về thể chế chính trị, hình thức chính phủ, sửa đổi hiến pháp… Ngoài ra, quyền chính trị còn có thể được mở rộng và có liên quan tới một loạt các quyền về tự do dân chủ của cá nhân, công dân; vì các quyền này, liên quan tới bản chất, chính sách và mức độ dân chủ của nhà nước. Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp, tự do biểu tình, tự do tín ngưỡng và tôn giáo… So với việc thực hiện các quyền dân sự, mức độ thực hiện các quyền chính trị bao giờ cũng kèm theo những giới hạn nhất định như vì lý do an ninh quốc gia; trật tự công cộng, đạo đức chung, quyền và tự do của người khác… trong một xã hội dân chủ[1]. Tuy nhiên, nếu xem quyền dân sự là những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác (quyền sống, quyền tự do đi lại, cư trú…); thì ngược lại các quyền chính trị, để thực hiện nó, cá nhân phải tham gia cùng với những người khác, như quyền hội họp hòa bình, quyền bầu cử… Quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và xã hội đã được quy định tại Điều 25 của ICCPR. (more…)

Advertisements

Hoàn thiện quy định chương II dự thảo Hiến pháp nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới

Tháng Ba 16, 2013

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CỦA XÃ HỘI

Trương Hồng Quang*

 (Hội thảo của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp ngày 22/2/2013 và đăng trên Tạp chí NGhiên cứu Lập pháp số 5, tháng 3/2013)

Có thể nhận thấy việc đưa chương Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên ở vị trí Chương II là một trong những bước tiến của dự thảo Hiến pháp sửa đổi về vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định của Chương II vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới, thực tiễn khá sôi động của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Bài viết xin bàn luận và góp ý một số vấn đề cụ thể để góp phần làm cho Hiến pháp có sức sống hơn, phù hợp với yêu cầu đặt ra hiện nay.

1. Cần xem xét ghi nhận những vấn đề mới liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới

Tại Việt Nam, các khái niệm như xu hướng tính dục[1] và bản dạng giới[2] còn khá xa lạ trong đời sống và chưa xuất hiện trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Hai khái niệm này sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề như: quan niệm về gia đình, về kết hôn, quan niệm về bình đẳng giới, tác động đến việc phân biệt đối xử, ngang bằng trong xã hội. Hiện nay, Dự thảo Hiến pháp có quy định hai Điều:

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Quy định như trên thực sự vẫn còn một số điểm cần quan tâm như sau:

Thứ nhất, Điều 27 dự thảo chỉ ghi nhận bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ, chống phân biệt đối xử giữa nam và nữ.

Như vậy, dự thảo đã bỏ quên một số nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội là người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT)[3]. Cộng đồng LGBT đang ngày càng hiện hữu rõ nét trong xã hội Việt Nam và trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc đặt ra yêu cầu phải có những hành động cần thiết để đảm bảo quyền công dân cho nhóm công dân này. Với quy định của dự thảo có thể đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử giữa một nam và một nữ nhưng không đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử trong cùng một giới tính (ví dụ như nam đồng tính và nam dị tính). Thực ra, quan niệm về bình đẳng giới ở Việt Nam như hiện nay là còn khá hạn hẹp. Hiện nay trên thế giới đã và đang có xu hướng quan niệm bình đẳng giới dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới chứ không chỉ giữa hai giới tính khác nhau. Thiết nghĩ, quan niệm này sẽ đầy đủ và có tính nhân văn hơn quan niệm truyền thống. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012), xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Ngoại trưởng Hoa Kỳ),… Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Để góp phần khẳng định tính đúng đắn về xu hướng tính dục thì nên lồng ghép quan điểm chống sự phân biệt về xu hướng tính dục vào trong quan niệm bình đẳng giới. Nhiệm vụ này, nên được Hiến pháp ghi nhận trước tiên, sau đó mới đến các đạo Luật cụ thể hóa.

Đối với vấn đề chống phân biệt đối xử, nhóm người LGBT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị rất nhiều trong xã hội hiện nay. Vì vậy, quy định như dự thảo hiện hành không đảm bảo cơ sở để cụ thể hóa các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ cộng đồng LGBT. (more…)

[Thanh Nien Online] Cần hiến định quyền giám sát, phản biện của dân

Tháng Hai 23, 2013

Cần hiến định quyền giám sát, phản biện của dân

23/02/2013 3:00

Nhiều ý kiến tại Hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, diễn ra ngày hôm qua do hai tạp chí thuộc Văn phòng Quốc hội và Trung ương Hội Luật gia Việt Nam đồng tổ chức, đóng góp tâm huyết xoay quanh vai trò lãnh đạo của Đảng, các quyền cơ bản của công dân cũng như cơ chế hội đồng bảo hiến.

Bàn về vai trò lãnh đạo của Đảng trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (gọi tắt là dự thảo), GS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm UB Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng: “Hiến pháp cần quy định rất rõ phương thức lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội của Đảng để tránh tình trạng mất cân đối hiện nay, đó là quyền và nghĩa vụ của nhân dân, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước được quy định rất cụ thể, trong khi đó quyền và nghĩa vụ của lực lượng lãnh đạo cả nhân dân lẫn nhà nước là Đảng lại được quy định một cách khá sơ sài”.Ông Thuyết đồng thời kiến nghị cần hiến định luôn những nguyên tắc đang dẫn dắt đời sống chính trị nước nhà cũng như những quyền lực thực tế của Đảng, trong đó có việc xác định phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bố trí nhân sự và lãnh đạo công tác của toàn bộ bộ máy nhà nước…Ông Lê Tiến, hội viên Hội Luật gia Việt Nam, phát biểu sau đó đề nghị dự thảo nên có một chương riêng về vai trò lãnh đạo của Đảng bởi “Đảng có quyền lực thì phải chịu trách nhiệm và trách nhiệm phải cụ thể”.

Cần hiến định quyền giám sát, phản biện của dân
Các đại biểu góp ý tại Hội thảo ngày 22.2 – Ảnh: Nguyệt Minh

Cần hiến định cơ chế bảo đảm quyền công dân

Bàn về nội dung quyền con người, quyền công dân trong dự thảo sửa đổi, ông Trương Hồng Quang, nghiên cứu viên của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), nhận xét dự thảo vẫn chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa đầy đủ một số quyền rất quan trọng đang thực sự là nhu cầu trong đời sống hiện nay, trong đó có quyền giám sát, phản biện xã hội. Theo ông Quang, hiện trong chương 2 của dự thảo mới chỉ quy định giám sát và phản biện xã hội tại khoản 2, điều 9 theo hướng Mặt trận phải vận động nhân dân giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Ông Quang đề nghị nên quy định nội dung giám sát và phản biện xã hội thành một chương riêng trong dự thảo, bổ sung nội dung “Công dân có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật và việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức, viên chức. Nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận và phản hồi các ý kiến, kiến nghị của công dân thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội” cũng như “việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội do luật định”.Chuyên gia pháp lý này đồng thời đề nghị trong chương 2 của Dự thảo bổ sung thêm một điều quy định: “Công dân có quyền thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tham gia công việc nhà nước ở cơ sở. Nhà nước, xã hội và cộng đồng dân cư có trách nhiệm đảm bảo, tạo điều kiện cho công dân được thực hiện các quyền làm chủ ở cơ sở” và quyền này do luật định.
TS Đặng Minh Tuấn, khoa Luật (ĐHQGHN) thì cho rằng việc quy định các quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp đặt ra nghĩa vụ của nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền đó. Do vậy, hiến pháp một mặt phải ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản, mặt khác phải thiết lập cơ chế để nhà nước thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm các quyền đó. “Thiếu các cơ chế hiệu quả và trách nhiệm, các quyền hiến định chỉ có giá trị hình thức”, TS Tuấn nhìn nhận.
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130223/can-hien-dinh-quyen-giam-sat-phan-bien-cua-dan.aspx

CÁC XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Tháng Bảy 29, 2012

CÁC XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

ThS. Nguyễn Linh Giang – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ngày nay, quyền con người đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, để có được vị trí như hiện nay, quyền con người phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm của lịch sử. Từ những tư tưởng sơ khai đầu tiên, khái niệm về quyền con người đã phát triển và không ngừng được mở rộng. Quyền con người thoạt tiên chỉ là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ngày nay quyền con người còn bao gồm cả quyền phát triển, quyền được thông tin, quyền được sống trong môi trường trong sạch, quyền chăm sóc sức khỏe…

Như vậy, cũng giống như rất nhiều các lĩnh vực khoa học xã hội, quyền con người không phải là một khái niệm bất biến mà nó thay đổi, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nhìn lại quá trình phát triển của khái niệm quyền con người cũng như sự phát triển của các quyền con người, có thể thấy đã có rất nhiều thay đổi trong lĩnh vực này, gắn kết chặt chẽ với các sự kiện và những thay đổi quan trọng của con người.

  1. I.      Nhìn lại các xu hướng phát triển của quyền con người trong lịch sử

Quyền con người là một khái niệm mang tính chính trị, pháp lý và đã có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại cho đến ngày nay, mặc dù các khái niệm, các quan điểm có nhiều thay đổi, nhưng có một giá trị bất biến và không thể thay đổi, đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng, đó là quyền con người là “quyền vốn có” và “không thể tách rời” đối với mỗi con người sinh ra trên trái đất này, không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu, không phân biệt giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội.

Nguồn gốc của quyền con người trải dài từ truyền thống xa xưa của các quốc gia, các dân tộc. Thông qua quá trình phát triển, mỗi người đều có các quyền và nghĩa vụ thông qua tư cách thành viên trong một nhóm người, một gia đình, một dân tộc, một tôn giáo, một tầng lớp xã hội, một cộng đồng người, một Nhà nước. Mỗi xã hội đều có các quan điểm truyền thống, được xem là các quy tắc trong ứng xử giữa các thành viên trong xã hội. Kinh Vedas, Bộ luật Hammurabi, Kinh thánh, Kinh Koran và những tuyển tập của Khổng Tử được xem là những tư liệu cổ nhất đề cập đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người. Trong các bộ luật của người Inca và Aztec cổ cũng đã ghi nhận các nguyên tắc về công bằng. Thực tế ở mọi xã hội, mọi quốc gia, cho dù có được ghi nhận thành văn hay không thì đều có một hệ thống về cách ứng xử công bằng, đúng mực và tôn trọng lẫn nhau. (more…)

HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THÔNG QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Hai 27, 2011

HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THÔNG QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

Các nghiên cứu từ trước đến nay đều khẳng định rằng chủ thể của phản biện xã hội là nhân dân với tính chất là tập hợp toàn bộ các nhóm người, các tầng lớp khác nhau trong xã hội[1]. Theo đó các chủ thể phản biện xã hội có thể bao gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; tổ chức kinh tế (doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế); tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp; hội, hiệp hội, liên hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ; cá nhân công dân (nhà khoa học, chuyên gia, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp của quyết định, chính sách…)[2]. Có thể nhận thấy với mỗi chủ thể khác nhau thì hiệu quả, mức độ phản biện xã hội sẽ khác nhau. Bài viết sau đây xin đánh giá một số vấn đề trong thực hiện phản biện xã hội của một số chủ thể (chuyên gia, nhà khoa học; hiệp hội và báo chí) thông qua một số trường hợp cụ thể.

1. Phản biện xã hội chính sách, pháp luật về giáo dục Đại học của các chuyên gia, nhà khoa học

Các chuyên gia, nhà khoa học là một chủ thể rất quan trọng của hoạt động phản biện xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Đây chính là lực lượng có chất lượng kiến thức, chuyên môn cũng như mức độ cống hiến cho khoa học rất lớn. Chính sách trong giáo dục đại học là vấn đề rất nóng bỏng tại Việt Nam. Do đó, các chuyên gia, nhà khoa học từ trước đến nay đều giành nhiều thời gian, tâm huyết để tham gia mổ xẻ với nhiều ý kiến đóng góp, phản biện khá đa dạng, phong phú, nhất là đối với hệ các chính sách, pháp luật giáo dục đại học. Trong thời gian gần đây có hai vấn đề rất được quan tâm, đó là: áp dụng học chế tín chỉ và Dự thảo Luật Giáo dục Đại học. (more…)

CHỦ TRƯƠNG, ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ MỨC ĐỘ THỂ CHẾ HOÁ CHỦ TRƯƠNG NÀY TRONG LCC

Tháng Mười Một 21, 2011

Truong Hong Quang

1. Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá hoạt động công chứng

1.1. Khái quát chung về xã hội hoá hoạt động công chứng

Xã hội hoá là việc nhà nước chuyển giao cho tư nhân đảm nhiệm một số chức năng mà nhà nước đảm nhiệm. Xu thế chung là xã hội hoá các dịch vụ công, không mang tính chất hành chính đơn thuần. Xã hội hoá đã góp phần nâng cao chất lượng và đa dạng hoá dịch vụ. Các ngành y tế, giáo dục đã triển khai mạnh mẽ việc xã hội hoá từ nhiều năm nay, rất nhiều bệnh viện tư, phòng khám tư và trường tư thục đã ra đời và hoạt động tốt. Một số ngành khác cũng đã bước đầu thực hiện việc xã hội hoá như: vận tải bằng xe buýt, vệ sinh môi trường và hoạt động đã đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Việc xã hội hoá công chứng đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đây là một ngành nghề đặc thù vừa mang tính chất dịch vụ công vừa mang tính chất hành chính nhà nước, việc xã hội hoá đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết nên chưa được triển khai mạnh mẽ. Tuy nhiên, xã hội hoá công chứng đã trở thành một xu thế tất yếu để đáp ứng cho được các yêu cầu bức thiết của xã hội. (more…)

KHUNG CHÍNH SÁCH CHO VIỆC ĐỊNH CƯ DÂN TRÊN CÁC HẢI ĐẢO

Tháng Chín 21, 2011


ThS. Dương Bạch Long[1]

Trương Hồng Quang[2]

 1. SƠ LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ ĐỊNH CƯ DÂN TRÊN CÁC HẢI ĐẢO

Đưa dân ra đảo, hải đảo để định cư là một trong những chính sách quan trọng trên nhiều phương diện của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, việc đưa người dân ra hải đảo sinh sống ổn định có ý nghĩa rất lớn đối với an ninh, quốc phòng. Một mặt chính sách này góp phần khẳng định chủ quyền của quốc gia, mặt khác, tạo ra một môi trường sinh sống mới, xây dựng kinh tế mới để tạo ra sự đa dạng trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. (more…)