Archive for the ‘Bài viết tại các Hội thảo, Chuyên đề khoa học’ category

Chuyên đề về Right To Die

Tháng Năm 10, 2011

Chuyên đề: ”Một số vấn đề cơ bản về quyền được chết và vấn đề xây dựng Luật An tử tại Việt Nam”

Số Thông tin Khoa học Pháp lý (Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp) tháng 3/2011

Tác giả: Trương Hồng Quang.

Dưới đây giới thiệu một phần nghiên cứu và kết luận.

LỜI MỞ ĐẦU

Quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân là những quyền được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia bảo vệ. Việc thực thi những quyền này phản ánh mức độ đảm bảo nhân quyền của mỗi quốc gia. Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 tại Palais de Chaillot (Pháp) đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân” (Điều 3). Quyền được sống nói riêng và nhân quyền nói chung vốn là những quyền cơ bản của bất kỳ một công dân, là một trong những mục tiêu quan trọng mà các nhà xây dựng chính sách, các nhà lập pháp hướng đến. Tuy nhiên, từ đầu thế kỉ XIX, khoa học pháp lý thế giới đã chứng kiến một sự thay đổi khá đặc biệt trong nhận thức cũng như tư duy, học thuật. Đó là việc xuất hiện khái niệm về ”quyền được chết” tại những nước tư bản phương Tây – nơi mà xã hội luôn luôn biến động với những thay đổi lớn. Bên cạnh thuật ngữ quyền được chết, các nhà khoa học còn nhắc đến các thuật ngữ liên quan như: an tử (cái chết êm ả), Luật An tử,… Đối tượng chủ yếu liên quan đến quyền này là các bệnh nhân bị bệnh nan y ở giai đoạn cuối mà việc chữa trị chỉ có ý nghĩa duy trì tình trạng hiện tại chứ không thể chữa lành bệnh cho họ. Việc có nên chấp nhận cho một công dân có quyền được chết hay không, nếu cho phép thì được sử dụng quyền này trong những trường hợp nào, liệu quyền được chết có đi ngược lại quyền được sống hay không, tính chính trị trong việc công nhận quyền được chết thể hiện như thế nào,… là những vấn đề gây ra nhiều tranh cãi trong nhiều năm qua. (more…)

Advertisements

THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, SỬ DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THỂ CHẾ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI, QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI – ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang*

 

1. Khái quát về cộng đồng dân cư và thể chế xã hội

1.1. Khái niệm cộng đồng dân cư và đặc điểm

Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng người đó có những kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng dân cư là một dạng của cộng đồng. Hiểu một cách đơn giản nhất, cộng đồng dân như là nhiều người, nhiều nhà, gia đình, cá thể, nhóm cùng sống trong một khoảng không gian hoặc là những người cùng sinh sống trong một khu vực lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính họ gắn bó, liên kết cùng nhau thực hiện lợi ích, nghĩa vụ,Khái niệm cộng đồng dân cư xuất hiện đồng thời với sự ra đời của một quốc gia, dân tộc, hay nói xa xưa hơn là của cả lịch sử loài người. Cộng đồng dân cư có thể tồn tại dưới các hình thức sau đây:

– Các cộng đồng theo khu vực địa lý: ví dụ như cộng đồng dân cư Bắc, Trung, Nam.

– Các cộng đồng dân cư theo vùng miền đặc thù: đô thị, nông thôn, dân tộc, miền núi,…

– Cộng đồng dân cư ở khu vực giao thoa: giao nhau giữa hai khu vực, vùng, miền,…

Đặc điểm của cộng đồng dân cư thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, cộng đồng dân cư mang tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện các nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi của công dân, dân tộc.

Thứ hai, nói đến cộng đồng dân cư là nói đến một tập thể gắn kết cao, mang tính chất xã hội nhiều hơn so với các loại cộng đồng khác.

Thứ ba, về mặt kinh tế, cộng đồng dân cư là một tập hợp của nhiều thành phần kinh tế.

1.2. Khái niệm thể chế xã hội và đặc điểm

Kinh tế học thể chế mới không chỉ khảo sát trạng thái cân bằng mà tìm hiểu xem các thể chế nào tác động thuận lợi tới ổn định kinh tế và tăng trưởng kinh tế. Trong khi mở rộng kiến thức khoa học, đổi mới công nghệ tạo ra những cơ hội mới, song vấn đề là làm sao thực hiện những cơ hội đó với chi phí giao dịch thấp nhất trong một thế giới bất định và với nhận thức không hoàn hảo. Chính vì vậy mà kinh tế học thể chế mới nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thể chế chính thức, thể chế phi chính thức.

(more…)

THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Một 2, 2010

Trương Hồng Quang


I. NÔNG THÔN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm nông thôn

Khác với vấn đề đô thị, nông thôn là một hiện tượng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của nước Việt. Các chặng đường lịch sử đã chứng kiến những biến đổi cũng như các cuộc cách mạng lịch sử liên quan, xuất phát từ nông thôn. Tại Việt Nam, nông thôn dường như mang những nét rất đặc thù so với các nước khác trên thế giới, thể hiện ở văn hóa làng xã và các đặc điểm xã hội tiềm ẩn trong mỗi chặng đường phát triển. Nếu như khái niệm đô thị được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì khái niệm nông thôn dường như được quan tâm một cách khiêm tốn hơn. Các nghiên cứu từ trước đến nay đã cho thấy một điều rằng, các nhìn nhận về nông thôn luôn đi theo hướng xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn.

Theo quan điểm chung, nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân sư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị[1]. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Ở Việt Nam, cho đến năm 2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5%. Con số đó những năm trước còn lớn hơn nhiều. Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội. Ngay cả những Việt kiều sống ở các nước văn minh, tiên tiến nhất thế giới, vẫn giữ nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam.

(more…)

THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang


I. ĐÔ THỊ VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

1. Khái lược những vấn đề chung về đô thị

1.1. Một số khái niệm

– Tư duy về đô thị.

Đô thị là biểu trưng của nền văn minh nhân loại[1]. Và chưa bao giờ trong lịch sử loài người, các thành phố lại có vị trí quan trọng tuyệt đối như hôm nay trong việc tạo dựng và phát triển các giá trị nhân loại. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi đô thị trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Từ xa xưa, các nền văn minh ở cả phương Đông và phương Tây đã có những nhận thức về tổ chức đô thị nhằm đạt được những mục đích về tâm linh, quyền lực hay phòng thủ. Thế kỷ 4 trước Công Nguyên, triết gia Hy Lạp Aristotle bắt đầu nhìn nhận đô thị từ góc độ dân sinh và tổ chức xã hội, đặt nền móng đầu tiên cho ngành quy hoạch hiện đại. Trong tác phẩm The Politics (Chính trị học), ông miêu tả mô hình một cộng đồng lý tưởng có quy mô dân số khoảng 5000 người – “đủ nhỏ để tiếng nói của mỗi cá nhân có thể được lắng nghe bởi toàn bộ cộng đồng, và đủ lớn để có thể tự cung, tự cấp[2]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đô thị chỉ thực sự bùng nổ vào thế kỷ 19 khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra tại nước Anh cùng với sự xuất hiện của các thành phố công nghiệp chật chội và ô nhiễm. Nhà vô sản Federic Engles đã quan sát những khu ổ chuột của công nhân ở Manchester và hoàn thành những trang viết đầu tiên của ngành Xã hội học đô thị. Ebenezer Howard, một thương gia và nhà hoạt động xã hội, thì đề xuất mô hình đô thị vệ tinh thông qua việc xây dựng các thành phố vườn bao quanh bởi các vành đai xanh và liên kết với đô thị trung tâm bằng hệ thống đường sắt[3]. Vào những năm 1930, ngành Xã hội học đô thị ra đời khi những các nhà xã hội học ở trường Đại học Chicago bàng hoàng trước những dòng người nhập cư vào thành phố và những biến đổi trong đời sống đô thị và bắt tay vào nghiên cứu những sự biến đổi này tại Chicago. Đến những năm 60, 70, khi xã hội phương Tây bắt đầu bước sang giai đoạn hậu hiện đại, các tác phẩm của nhà báo Jane Jacob, nhà nghiên cứu Kevin Lynch và kiến trúc sư theo trường phái cổ điển Léon Krier đã đặt đô thị dưới góc nhìn nhân bản hơn và nhấn mạnh yếu tố con người thay vì công năng của trường phái Le Corbusier hay trường phái quy hoạch Victoria từ thế kỷ 19.

(more…)

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SÁNG CHẾ CỦA NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Tháng Mười Một 2, 2010

Lê Thị Hoàng Thanh*

Trương Hồng Quang**


I. GIỚI THIỆU CHUNG

Trong số các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thì bồi thường thiệt hại được xem là biện pháp bảo vệ có tính thiết thực và mang lại hiệu quả cao. Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, đối với chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ, biện pháp này sẽ giúp họ có thể bù đắp được những tổn thất về mặt kinh tế mà họ đã phải gánh chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra. Thứ hai, đối với người đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì bồi thường thiệt hại tác động bất lợi tới tài sản của người vi phạm, ngăn ngừa khả năng tiếp tục xâm phạm. Bài viết này sẽ phân tích việc bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sáng chế tại Nhật Bản theo quy định của pháp luật Nhật Bản và phán quyết của Toà án.

Cũng như hầu hết các nước ở Châu Á, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Nhật Bản diễn ra khá phổ biến và phức tạp. Trước sức ép của việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, chính quyền Nhật Bản đã rất nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ[1].

Theo hệ thống pháp luật Nhật Bản, quyền sở hữu trí tuệ khá rộng với hai loại: pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp và pháp luật về quyền sở hữu không mang tính công nghiệp. Có 4 quyền sở hữu công nghiệp gồm: Quyền sáng chế; Giải pháp hữu tích; Quyền thiết kế; Quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá. Có 5 quyền sở hữu không mang tính công nghiệp được ghi nhận trong pháp luật Nhật Bản: Quyền tác giả; Thiết kế bố trí mạch tích hợp; Tên thương mại; Bí mật thương mại; Quyền đối với giống cây trồng. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được thực hiện bằng ba biện pháp chính: biện pháp hành chính, biện pháp hình sự và biện pháp dân sự. Và bồi thường thiệt hại là một trong các biện pháp dân sự hữu hiệu để chống lại hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, khắc phục những ảnh hưởng mà người bị xâm hại gánh chịu.

Trên thực tế, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng thủ tục tố tụng dân sự rất mất thời gian, khó khăn trong việc xác định chứng cứ, tính toán mức thiệt hại nên hầu hết những người bị xâm hại e ngại với việc khởi kiện người xâm hại tại Toà án vì hết sức khó khăn trong việc tìm đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế. Đại bộ phận những người bị xâm hại đề nhờ đến luật sư gửi giấy cảnh cáo tới người xâm hại, yêu cầu người xâm hại chấm dứt hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương lượng để bù đắp một khoản tiền (với những vi phạm quyền sở hữu sáng chế thông thường người bị xâm hại yêu cầu người xâm hại ký hợp đồng sử dụng sáng chế, trả tiền cho việc sử dụng sáng chế đó). Việc giải quyết với nhau bằng phương pháp hoà giải thành là rất nhiều, ít khi đưa đến tố tụng Trong trường hợp việc hoà giải, thương lượng không thành công, người bị xâm hại quyền sở hữu trí tuệ có làm đơn đến toà án yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đình chỉ vi phạm, sau đó làm thủ tục tố tụng dân sự. Các tranh chấp dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ do Toà án cấp tỉnh giải quyết[2].

(more…)

Sinh viên Luật với Cuộc thi SV Nghiên cứu khoa học!

Tháng Bảy 25, 2009

SINH VIÊN LUẬT VỚI CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trương Hồng Quang

Bài viết tham dự Hội thảo “Phong cách học của Sinh viên Luật” do báo SVVN phối hợp Đoàn Khoa Luật (VNU) tổ chức ngày 14/03/2009

Tạp chí Luật học số tháng 7/2010

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Có thể nói chưa bao giờ hoạt động khoa học pháp lý có nhiều tiềm năng như hiện nay. Do đó, nhu cầu nghiên cứu, khám phá lĩnh vực này ngày càng đòi hỏi những yêu cầu cao hơn, đang dạng và phong phú hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) sinh viên là một mảng không thể thiếu trong mỗi cơ sở đào tạo đại học được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến một trong số những hoạt động của NCKH sinh viên, đó là cuộc thi Sinh viên NCKH do Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức hàng năm dành cho sinh viên các trường Đại học trên toàn quốc. Cuộc thi này được bắt đầu từ năm 1989 đến nay đã tổ chức được 19 năm. Đó là một khoảng thời gian không dài nhưng cũng đủ để đánh giá được thực trạng cũng như cách thức tổ chức hoạt động NCKH sinh viên của các trường Luật nói riêng và các trường Đại học nói chung. Cuộc thi đã trở thành một cơ hội, một sân chơi hữu ích cho sinh viên nói chung cũng như sinh viên Luật nói riêng được thỏa mãn niềm đam mê cũng như rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho một cử nhân Luật tương lai. Rất nhiều sinh viên Luật đã vinh dự nhận được những phần thưởng xứng đáng của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Bài viết sau đây chỉ đề cập đến những vấn đề liên quan đến cuộc thi Sinh viên NCKH trong mối liên hệ với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung chứ không tham vọng đi sâu phân tích những kỹ năng, phương pháp NCKH cho sinh viên.

(more…)