Archive for the ‘Đề tài, công trình nghiên cứu các cấp’ category

NHU CẦU GIẢI THÍCH QUY ĐỊNH VỀ HẠN CHẾ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013

Tháng Tư 17, 2020
Trương Hồng Quang*, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 03/2018, tr. 03-13
Tóm tắt: Hạn chế quyền con người, quyền công dân là một quy định tiến bộ của Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Theo đó, “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Bài viết phân tích một số vấn đề khi cụ thể hóa quy định này trong thực tế. Theo tác giả bài viết, quy định về hạn chế quyền con người, quyền công dân cần được giải thích cụ thể. Tác giả cũng đề xuất một số khuyến nghị cụ thể cho vấn đề này.
Từ khóa: hạn chế quyền; hiến pháp; quyền con người; quyền công dân.
1. Vấn đề hạn chế quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013
Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, trước Hiến pháp năm 2013 thì chưa có một bản hiến pháp nào quy định về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân (sau đây gọi tắt là hạn chế quyền). Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1980 cũng có một quy định khá thú vị tại Điều 54: “Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, kết hợp hài hoà những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân, bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người.” Với quy định này, việc thực hiện quyền phải kết hợp hài hòa với yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân. Có thể hiểu đây chính là tính cân bằng trong việc thực hiện quyền (và nếu không đáp ứng nguyên tắc này thì có thể bị hạn chế thực hiện quyền).
Với Hiến pháp năm 2013, đây là lần đầu tiên vấn đề hạn chế quyền được hiến định thành nguyên tắc. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 15 của Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác“. Những quy định này được đánh giá là một điểm sáng của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, từ nay không được ai tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trường hợp cần thiết nhưng phải được luật quy định.
Có thể nhận thấy, Hiến pháp năm 2013 đã xác lập một nguyên tắc chung về hạn chế quyền. Việc hạn chế việc thực hiện quyền chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của các quyền con người, quyền công dân. Nó bảo đảm sự cân bằng giữa các lợi ích trong mối quan hệ Nhà nước – Con người, Công dân, Cá nhân; bảo đảm sự minh bạch và lành mạnh của các mối quan hệ này. Nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực công có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Xét ở những khía cạnh cơ bản, quy định ở khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã tương thích với quy định của pháp luật quốc tế và các bản hiến pháp tiến bộ trên thế giới về nguyên tắc hạn chế quyền. Quy định này nhằm bảo đảm rằng việc hạn chế quyền chỉ được đặt ra khi có lý do khách quan, hợp pháp và hợp lý, trên cơ sở có sự nghiên cứu, cân nhắc cẩn thận của chủ thể có thẩm quyền. Như vậy, quy định về nguyên tắc hạn chế quyền đã góp phần bổ sung cho hệ thống cơ chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam.

(more…)

Đánh giá chung thực trạng nhân dân tham gia quản lý Nhà nước

Tháng Năm 30, 2011

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Do đó, chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý của Nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mới thực sự thành công. Bài viết này đề cập tới một số vấn đề nhằm thúc đẩy sự tham gia một cách có hiệu quả của người dân vào các hoạt động quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

Việc mở rộng hình thức tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước không chỉ đòi hỏi từ sự hội nhập mà quan trọng hơn là từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, dân chủ hóa đời sống xã hội và của bản thân Nhà nước. Mở rộng sự tham gia mạnh mẽ của người dân vào các quá trình ra quyết định, các hoạt động quản lý nhà nước sẽ đóng góp quan trọng cho việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ, ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện hiện nay.

Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân vào công việc quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm cho Nhà nước giữ vững bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, pháp luật được ban hành đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám. Hiến pháp năm 1946 khẳng định “…Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1). “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều thứ 6), “… đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến thiết tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều thứ 7). (more…)

Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Tháng Năm 23, 2011

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trương Hồng Quang  

 

          2.1. Vấn đề phân loại lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật sở hữu trí tuệ

Như đã phân tích ở các chương trên, theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành thì việc xác định hình thức lỗi cũng chỉ có ý nghĩa trong một số trường hợp nhất định. Trong một số trường hợp, lỗi vô ý là một trong những điều kiện cần để được xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Còn mọi trường hợp gây thiệt hại do lỗi cố ý thì luôn phải chịu trách nhiệm bồi thường “toàn bộ”[1]. Theo như phân tích tại chương I, các quốc gia trên thế giới xem việc phân loại lỗi có ý nghĩa rất quan trọng, ví dụ như pháp luật của Đức cho phép Toà án có quyền xem xét để giảm mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm được xác định là do lỗi vô ý nhẹ.

Theo pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam, việc phân loại lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thực sự có nhiều ý nghĩa và không ảnh hưởng đến bất cứ yếu tố nào trong toàn bộ cơ chế bồi thường thiệt hại. Một hành vi xâm phạm dù là do lỗi vô ý, cố ý hay không có lỗi đều phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại thực tế gây ra. Điều này có lẽ xuất phát từ quan điểm pháp lý của Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ trương khôi phục các quan hệ dân sự bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm của các nước và thực tiễn tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt nam hiện nay, có thể thấy, việc phân hoá trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo mức độ lỗi cũng như tính nghiêm trọng trong hành vi vi phạm là điều cần thiết phải tính đến một mặt nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân, mặt khác, đảm bảo tốt hơn tính hiệu quả, công bằng trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật. (more…)

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH TRỌNG TÀI

Tháng Mười Một 7, 2010

Truong Hong Quang

1.1. Lịch sử hình thành chế định trọng tài trên thế giới

Khoa học pháp lý chưa khẳng định được chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này[1]. Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.

Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610). Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697. Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công. Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới. hậm chí, trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được biết đến với thuật ngữ ODR – online dispute resolution nghĩa là giải quyết tranh chấp trực tuyến). Trọng tài trực tuyến tiến hành khi có khiếu nại trực tuyến, thủ tục tố tụng diễn ra trên internet, trọng tài phân xử và ra phán quyết dựa vào hồ sơ do các bên xuất trình.

(more…)

NHẬN DIỆN TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT

Tháng Mười Một 3, 2010

Chuyên đề nghiên cứu của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp. Tập thể tác giả:

1. TS. Dương Thanh Mai, Chuyên gia cao cấp Bộ Tư pháp

2.GS. TS. Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện KHPL

3. Ths. Nguyễn Văn Cương, Phó trưởng Ban NCPL Dân sự – Kinh tế, Viện KHPL.

4.ThS. Trần Thị Quang Hồng, Phó trưởng Ban NCPL DS-KT, Viện KHPL.

5. CN. Lê Thị Hoàng Thanh, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

6. CN. Trương Hồng Quang, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

7. CN. Chu Thị Hoa, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

8. CN. Phạm Văn Bằng, Nghiên cứu viên, Viện KHPL.

9. CN. Nguyễn Hoàng Nhật Thi, Cộng tác viên.

GIỚI THIỆU CHUNG
I. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT
1.1. Khái niệm Kinh tế học pháp luật
1.2. Đối tượng nghiên cứu
1.3. Phương pháp nghiên cứu
1.4. Ích lợi của việc nghiên cứu kinh tế học pháp luật
II. LƯỢC SỬ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT
2.1. Những người tiên phong của trường phái Kinh tế học pháp luật
2.2. Sự hình thành trường phái Kinh tế học pháp luật hiện đại
2.3. Các xu hướng nghiên cứu chính của Kinh tế học pháp luật
III. KHÁI QUÁT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ HỌC PHÁP LUẬT
3.1. Quan niệm về bản chất hành vi của con người
3.2. Kinh tế học về sở hữu và quyền tài sản
3.3. Kinh tế học về quyền sở hữu trí tuệ
3.4. Kinh tế học về hợp đồng
3.5. Kinh tế học về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
3.6. Kinh tế học về trách nhiệm sản phẩm
3.7. Kinh tế học về bảo vệ môi trường
3.8. Kinh tế học về kiện tụng dân sự
3.9. Kinh tế học tội phạm và luật hình sự
3.10. Kinh tế học về quá trình xây dựng pháp luật
IV. NHỮNG KẾT LUẬN SƠ BỘ 

GIỚI THIỆU CHUNG

Kinh tế học pháp luật (Law and Economics) được định hình như một trường phái lý luận pháp luật[1] từ khoảng giữa thế kỷ 20.[2] Tại thời điểm đó, trường phái này được coi là hướng nghiên cứu pháp luật mới theo đó, các nhà nghiên cứu dùng tri thức, phương pháp của khoa kinh tế học để phân tích quá trình hình thành, phát triển của pháp luật và thiết chế pháp luật, đánh giá, lượng hóa tương tác giữa pháp luật với xã hội.[3] Trường phái này gắn bó với nhiều nhà kinh tế có tên tuổi đã dành nhiều thời gian cho hoạt động nghiên cứu các vấn đề pháp lý trong đó phải kể đến Ronald Coase (người đã được giải thưởng Nobel năm 1991)[4] và Gary S. Becker (người đạt giải thưởng Nobel năm 1992).[5]

Nếu như ở giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu thuộc phái này chỉ sử dụng lý thuyết kinh tế để nghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh những hoạt động mang tính thị trường như pháp luật cạnh tranh, thuế, quản trị doanh nghiệp, thì từ thập niên 1970, với sự đi tiên phong của giáo sư Richard Posner (Đại học Chicago) và nhiều đồng nghiệp khác[6], nghiên cứu pháp luật từ góc độ kinh tế đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác, kể cả lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hiến pháp, luật hành chính, luật hôn nhân, luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,… Trường phái này đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới nghiên cứu, học thuật, giảng dạy ở Hoa Kỳ sau đó lan nhanh sang giới pháp lý ở một số quốc gia ở châu Mỹ (Canada, châu Mỹ Latin), châu Âu (Anh, Ý, Đức,…). Một số quốc gia châu Á cũng đã bước đầu tiếp cận và quan tâm tới trường phái này. Có thể nói, lợi ích rõ nét nhất mà trường phái kinh tế học pháp luật mang lại cho giới luật gia chính là việc thúc đẩy hình thành một lối tư duy phân tích pháp luật mới – thứ tư duy dung hợp cả tư duy pháp lý với tư duy kinh tế (mà chúng tôi tạm gọi là tư duy pháp lý kinh tế). Tư duy pháp lý kinh tế có nội dung rộng và sâu hơn tư duy pháp lý thông thường. Tư duy pháp lý thông thường chủ yếu đánh giá, nhìn nhận hành vi, ứng xử của một chủ thể trong xã hội từ góc độ hợp pháp hay không hợp pháp, được phép hay không được phép. Tư duy pháp lý kinh tế không chỉ dừng ở đó mà còn đặt ra yêu cầu đánh giá tính hiệu quả của hành vi ứng xử ấy. Ở các nước phát triển, tư duy pháp lý kinh tế đang thâm nhập vào nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau từ xây dựng đến tổ chức thực thi. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, tư duy pháp lý kinh tế đặt ra yêu cầu việc xây dựng chính sách, pháp luật phải trải qua quy trình đánh giá tác động kinh tế- xã hội để chứng minh tính hiệu quả về kinh tế-xã hội của chính sách, pháp luật ấy. Trong lĩnh vực áp dụng, thực thi pháp luật, tư duy pháp lý kinh tế đòi hỏi việc thiết kế cơ chế thực thi pháp luật phải đáp ứng yêu cầu đạt được mục đích đề ra cao nhất nhưng với mức chi phí cho xã hội là thấp nhất. Chính vì sự khác biệt này, có thể nói rằng, nền pháp luật được xây dựng trên cơ sở tư duy pháp lý kinh tế sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về phát triển kinh tế-xã hội.

(more…)

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TỬ

Tháng Mười Một 2, 2010

TRƯƠNG HỒNG QUANG – Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

(Tạp chí NCLP 19, 10/2010)

“Quyền được chết” được pháp luật một số nước coi là quyền nhân thân của con người và được quy định trong một đạo luật gọi là Luật An tử. Quyền được chết, hiểu một cách đơn giản là quyền của một người đã thành niên đang phải chịu sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần kéo dài và không thể chịu đựng được sau một tai nạn hay một bệnh lý không thể cứu chữa, rơi vào tình huống y tế không lối thoát1, nên đã chọn thực hiện quyền được chết.

Hiện nay, một số quốc gia như Hà Lan, Bỉ, Lúcxămbua, các bang của Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật về an tử. Nhưng quyền được chết vẫn chưa được xem là quyền nhân thân trong pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau: trình độ lập pháp, các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… đã tác động làm cho quyền được chết trở thành cuộc chiến không chỉ dừng lại ở phạm vi lập pháp2. Chúng tôi xin đưa ra những nghiên cứu ban đầu về nội dung của một đạo luật quy định về quyền này.

1. Quyền được chết và khả năng xây dựng Luật An tử ở Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 6 và 7 Quốc hội khóa XI (2004, 2005), Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách năm 2005, vấn đề quyền được chết đã được đưa vào Dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự và được khá nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm. Nhìn chung, các quan điểm đều nhìn nhận đây là một việc làm nhân đạo, nhưng lại là một vấn đề nhạy cảm, không phù hợp với đạo lý người Á Đông hiện nay. Hơn nữa, số lượng bệnh nhân giai đoạn cuối, mắc bệnh vô phương cứu chữa của Việt Nam còn ít so với thế giới3. Do đó, quyền được chết vẫn chưa được công nhận và thông qua tại Việt Nam.

Trong đại bộ phận dân cư, quyền được chết là một vấn đề còn xa lạ và còn có nhiều sự nhầm lẫn trong quan niệm cũng như nhận thức. Bên cạnh đó, phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối đến việc tiếp cận những vấn đề mới, nhạy cảm có liên quan đến tín ngưỡng, văn hóa. Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng “thoáng” hơn phương Đông – thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và lựa chọn cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần thúc đẩy những quan điểm chống lại an tử phát triển như hiện nay.

Tại Hàn Quốc, năm 1997, bất chấp những đe dọa mạnh mẽ từ phía bác sĩ, một người vợ vẫn quyết định nên để cho người chồng 58 tuổi của mình tự chống đỡ với căn bệnh chảy máu não, do khó khăn tài chính của gia đình khiến bà này không thể làm khác hơn4. Tòa án ở địa phương đã kết án tù người vợ và hai bác sĩ vì đã để bệnh nhân – chồng của bà này, dù đang ở trong một tình trạng nguy kịch – vẫn phải rời khỏi bệnh viện mà không có biện pháp cứu chữa. Bộ luật Hình sự của Hàn Quốc quy định tội giết người cho bất cứ trường hợp nào kết thúc cuộc đời của người khác. Trong trường hợp này, mặc dù đã được sự đồng ý của bệnh nhân và các thành viên trong gia đình, nhưng việc không duy trì sự sống cho nạn nhân bằng cách không cho ăn, uống, không thuốc điều trị và các thiết bị hỗ trợ, sẽ bị coi là một tội ác. Hiện tại, mặc dù y học hiện đại đã có thêm nhiều hỗ trợ, trong đó có nhiều phản hồi tích cực từ tòa án khi một số lớn ý kiến cho rằng sẽ tốt hơn cho gia đình và bệnh nhân khi kết thúc những biện pháp điều trị vô nghĩa, nhất là đối với những bệnh nhân bị hôn mê mà không có một chút khả năng nào sẽ hồi phục, đồng thời sẽ giảm đi gánh nặng cho gia đình. Vụ án này chỉ là một trong những vụ án liên quan đến các tranh luận xung quanh vấn đề quyền được chết và Luật An tử trên thế giới trong nhiều năm qua. Thực sự, đây đã trở thành một chủ đề phức tạp với nhiều luận điểm trái ngược nhau. (more…)

Thể chế xã hội trong lĩnh vực dân tộc tại Việt Nam

Tháng Mười Một 2, 2010

THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

 

I. DÂN TỘC VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm, đặc điểm, cơ cấu các dân tộc anh em ở nước ta hiện nay

Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện. Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành.

Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Loại hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm  lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán.

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất[1]:

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người.

Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích  chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa thứ hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia – dân tộc. Theo nghĩa này, có thể nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa,…

Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc. Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất[2]. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ. Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.

+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm…

+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc). Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc.

(more…)

Tìm hiểu Quyền được chết qua một số vụ án

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang*


“Cái chết êm ả” (euthanasia/mercy killing) vốn không phải là vấn đề mới ở một số nước phương Tây. Khi nhắc đến thuật ngữ này, giới khoa học thường đưa kèm những thuật ngữ khác như: quyền được chết, Luật An tử, tự tử trợ giúp,… Nhìn chung, từ trước đến nay trên thế giới đã có nhiều vụ án liên quan đến quyền được chết với nhiều trường hợp rất đa dạng. Điều đó đã thể hiện rằng bản thân cái chết êm ả chứa đựng trong nó nhiều vấn đề rất phức tạp và chưa lí giải hoặc chưa định hình được. Bài viết sau đây sẽ phân tích một số vụ án liên quan đến quyền được chết với những mức độ và phạm vi khác nhau.

1. Một số vụ án liên quan đến “cái chết êm ả” trên thế giới

1.1. Vụ Terri Schiavo – Mỹ[1]

Vụ này đã kéo cả Tòa án tối cao Bang Florida, tòa án Liên Bang Mỹ và cả Quốc hội Mỹ vào cuộc. Ngày 25/2/1990, Terri Schiavo (lúc đó 26 tuổi) bị ngất xỉu tại nhà của mình gây ra bởi điều được các bác sĩ cho là tình trạng mất quân bằng chất potassium trong thân thể. Chồng của nạn nhân cho rằng người vợ của mình tham ăn quá độ đến bị thiếu hụt chất potassium gây ra tình trạng hoại tim. Dưỡng khí cho não bộ bị tắc nghẽn 5 phút đồng hồ, làm cho não bộ vĩnh viễn bị hư hại. Tòa phán quyết là cô bị bất lực nên chồng của cô được chỉ định làm giám hộ viên cho cô theo pháp lý. Đến năm 1992, bồi thẩm đoàn ở Hạt Pinellas, Florida, đã quyết định ban cho vụ của cô 1 triệu USD vì vấn đề mạo trị bệnh tình của cô. Trong đó, 7 trăm ngàn được đặt trong quĩ ký thác hầu lo cho việc chăm sóc cho cô, còn 3 trăm ngàn giành riêng cho chồng của cô Tháng 2/1993, cha mẹ của cô là ông bà Schindler Bob và Mary tranh cãi với chồng của cô là Michael Schiavo và bắt đầu sắp xếp việc viếng thăm cô vào những ngày khác nhau. Gia đình cha mẹ cô sau đó đã cố gắng nhưng thất bại trong việc loại trừ việc người chồng này giữ vai trò làm giám hộ pháp lý cho người con gái ông bà. Đến năm 1998, chồng của cô nộp đơn xin tòa loại bỏ ống dinh dưỡng của vợ mình đi, và đã tiêu xài số tiền 700.000 USD của cô cho vấn đề này, một số tiền bởi thế chỉ còn lại 50.000 USD.

(more…)

Chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia Asean

Tháng Mười Một 2, 2010


Ths. Trần Thị Quang Hồng

Trương Hồng Quang

Tạp chí Luật học số 7/2010


I. Bối cảnh chung

Chế định về trách nhiệm sản phẩm (Product Liability), hiểu theo nghĩa hẹp, là chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi sản phẩm có khuyết tật gây ra, tức là một loại trách nhiệm dân sự đòi hỏi người có trách nhiệm phải bù đắp bằng một cách thức phù hợp đối với thiệt hại mà người khác phải gánh chịu, dựa trên những cơ sở nhất định làm phát sinh trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm sản phẩm là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng[1]. Cụ thể hơn là, việc xác định trách nhiệm đối với sản phẩm không có bất kỳ đòi hỏi nào về việc giữa người bị thiệt hại và nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm phải tồn tại một quan hệ hợp đồng. Mối liên hệ giữa người phải chịu trách nhiệm và người được xác định thông qua một sản phẩm mà người phải chịu trách nhiệm là người sản xuất hoặc cung ứng và người được bồi thường thiệt hại là người tiêu dùng nó, giữa họ có thể có quan hệ hợp đồng, giao dịch trực tiếp hoặc không có quan hệ hợp đồng[2]. Quốc gia có tính tiên phong trong việc hoàn thiện chế định này theo hướng cho phép quy kết trách nhiệm đối với nhà sản xuất ngay cả khi nhà sản xuất không có lỗi trong việc gây ra khuyết tật của sản phẩm (còn gọi là trách nhiệm nghiêm ngặt – Strict Liability) chính là Hoa Kỳ. Thời điểm ra đời quy tắc trách nhiệm nghiêm ngặt ấy vào khoảng những năm 1950 ở Hoa Kỳ. Sự ra đời của quy tắc ấy nhanh chóng tạo cảm hứng cho các nhà lập pháp, người tiêu dùng, các Hội bảo vệ người tiêu dùng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, nỗ lực luật hoá quy tắc trách nhiệm nghiêm ngặt đối với nhà sản xuất không hề đơn giản.

Ở Châu Âu, cũng phải mất khá nhiều thời gian, các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu mới đạt được sự đồng thuận về sự cần thiết áp dụng quy tắc này trong thực tiễn pháp lý của mình. Sự kiện được đánh dấu là vào năm 1985, Liên minh Châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 85/374/EEC ngày 25 tháng 7 năm 1985 của Uỷ ban của Cộng đồng Châu Âu để hài hoà hoá các quy định bắt buộc trong lĩnh vực pháp luật và hành chính của các nước thành viên về trách nhiệm của các sản phẩm bị khuyết tật[3]. Đến năm 1999, Chỉ thị này được sửa đổi bởi Chỉ thị số 1999/34/EC do Nghị viện và Hội đồng Liên minh Châu Âu ban hành ngày 25 tháng 5 năm 1999 sửa đổi một số điều của Chỉ thị số 85/374/EEC[4].

Ở khu vực Đông Á và các nước ASEAN, tình hình tiếp nhận quy tắc về trách nhiệm sản phẩm có vẻ chậm trễ hơn. Nhật Bản là quốc gia đi tiên phong trong vấn đề này nhưng cũng phải mất hàng chục năm tranh cãi với sự nỗ lực vận động hành lang lớn của các Hội bảo vệ người tiêu dùng, Luật về Trách nhiệm sản phẩm năm 1994 mới được ban hành. Ở Đông Nam Á, việc đưa các quy tắc về trách nhiệm sản phẩm còn muộn hơn (ngoại trừ trường hợp tiên phong là Philippines đã có quy định từ năm 1992). Mức độ tiếp nhận các vấn đề về trách nhiệm sản phẩm cũng không đồng đều giữa các quốc gia và thể hiện quan điểm còn có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong khối về vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Tất nhiên, sự khác biệt này có lẽ cũng còn một nguyên nhân khác là do sự phát triển thiếu đồng đều giữa các quốc gia trong khối ASEAN.

Bài viết sau đây sẽ tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng nội dung chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia thuộc khu vực này nhằm góp phần định hướng cho việc soạn thảo Luật Bảo vệ Người tiêu dùng hiện nay tại Việt Nam[5].

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO SO SÁNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Mười Một 2, 2010
Trương Hồng Quang* 

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 8/2010)


1. Dẫn nhập

Hình thức quảng cáo so sánh (comparative advertising) đã xuất hiện ở Mỹ và nhiều quốc gia Tây Âu cách đây nhiều năm[1] với một lịch sử khá dài nhưng nó cũng là một hiện tượng mới và có mối quan hệ cơ bản với Tòa án. Trước năm 1970, quảng cáo so sánh không được sử dụng thường xuyên vì nó được xem như một câu hỏi nội bộ của các đối thủ cạnh tranh với nhau, và nó được cho rằng nguyên tắc của Luật Cạnh tranh phải đưa ra sự bảo vệ tương xứng. Sự so sánh trong các quảng cáo ngày càng thông dụng hơn, được coi như một thói quen hợp pháp của một nền kinh tế thị trường[2]. Các Tòa án của Mỹ đầu tiên nhận ra rằng, quảng cáo so sánh có những hành vi phức tạp, khó khăn và mang nhiều điểm đặc biệt. Trong khi ở Hoa Kỳ quảng cáo so sánh được công nhận là một dạng của quảng cáo thì tại châu Âu lại chia ra làm nhiều quan điểm khác nhau trong những năm 70 của thế kỷ XX. Họ cho rằng, hình thức này chứa nhiều nguy hiểm và sự rủi ro cho người sử dụng. Đạo luật về Thị trường thương mại của Anh năm 1938 cũng chống lại quảng cáo so sánh và không cho phép các đối thủ cạnh tranh sử dụng. Tư tưởng này cũng ảnh hưởng đến Cộng hòa dân chủ Đức trong những năm 80 của thế kỷ XX (biểu hiện ở Đạo luật chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1986 của nước này). Qua các thời kỳ phát triển của kinh tế thế giới, các doanh nghiệp ngày càng cạnh tranh khốc liệt với nhau nhằm đạt được lợi nhuận nhiều nhất có thể. Các hình thức xúc tiến thương mại là những hành vi thương mại được thương nhân thực hiện phổ biến để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội thương mại trong nền kinh tế thị trường[3] trong đó quảng cáo là một cách thức hữu hiệu. Và tất nhiên quảng cáo so sánh là một trong những hình thức mang tính cạnh tranh cao để các doanh nghiệp có thể quảng bá cho sản phẩm của mình một cách tốt nhất. Do đó, quảng cáo so sánh ra đời là một tất yếu trong xu hướng kinh doanh trên thế giới. Việc có nên cho phép quảng cáo so sánh hay không cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng tất cả đều thống nhất rằng, với quảng cáo so sánh nếu không vận dụng cẩn thận sẽ chỉ là nguồn gây ra các mối xung đột, không đem lại lợi ích gì cho người tiêu dùng[4]. Quảng cáo so sánh là một trong những quan hệ pháp luật cạnh tranh nhạy cảm nhất và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau[5], bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng lại chứa đựng khá nhiều vấn đề phức tạp. Bài viết sau đây sẽ tập trung tìm hiểu các vấn đề chung của quảng cáo so sánh, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến quảng cáo so sánh để từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện trong tương lai.

2. Khái quát chung về quảng cáo so sánh

2.1. Định nghĩa và phân loại quảng cáo so sánh

2.1.1. Định nghĩa quảng cáo so sánh theo pháp luật các nước trên thế giới

Theo Đại từ điển Black’s Law, quảng cáo so sánh được định nghĩa như sau:“Quảng cáo so sánh là quảng cáo mà so sánh một cách đặc biệt nhãn hiệu hàng hóa này với nhãn hiệu hàng hóa khác của cùng một loại sản phẩm”[6]. Dưới góc độ luật pháp, theo một tuyên bố của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commission – FTC) thì: “Quảng cáo so sánh được định nghĩa như là quảng cáo mà so sánh những nhãn hiệu hàng hóa khác theo những thuộc tính khách quan có thể kiểm chứng hoặc giá cả và là sự làm nhận ra nhãn hiệu hàng hóa khác bởi tên, minh họa bằng hình ảnh hoặc thông tin riêng biệt khác”[7].

Tại Liên minh Châu Âu, các nhà lập pháp nhận thấy rằng, có sự hiểu khác nhau về khái niệm quảng cáo so sánh trong pháp luật của các nước thành viên nên việc định nghĩa khái niệm này là cần thiết, vì mục tiêu hài hòa pháp luật[8], nên đã đưa ra một định nghĩa: “Quảng cáo so sánh là mọi quảng cáo làm nhận ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp một doanh nghiệp cạnh tranh hoặc các sản phẩm hoặc các dịch vụ mà một doanh nghiệp cạnh tranh cung ứng”. Theo định nghĩa này, quảng cáo so sánh là quảng cáo làm cho các chủ thể mà nó hướng tới nhận ra đối tượng được so sánh với đối tượng được quảng cáo. Chủ thể mà quảng cáo nhằm tới không chỉ là người tiêu dùng, mà còn có thể là các doanh nghiệp có nhu cầu hợp tác hoặc nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ được quảng cáo. Đối tượng được so sánh với đối tượng được quảng cáo có thể là một doanh nghiệp cạnh tranh, chẳng hạn trong một quảng cáo về doanh nghiệp; hoặc một sản phẩm, dịch vụ trong quảng cáo về sản phẩm, dịch vụ…[9] Tuy nhiên, khái niệm này không chỉ rõ hơn thế nào là sự “làm nhận ra một cách trực tiếp” và sự “làm nhận ra một cách gián tiếp”.

2.1.2. Định nghĩa quảng cáo so sánh theo pháp luật Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam chưa xây dựng khái niệm quảng cáo so sánh. Trước Luật Cạnh tranh (2004), quảng cáo so sánh được đề cập đến trong Luật Thương mại (1997) tại Đ192.2. Nhưng cả Luật Thương mại năm 1997 và 2005; Luật Cạnh tranh (2004) hay Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001; Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đều không định nghĩa quảng cáo so sánh, nghĩa là không nêu các yếu tố cấu thành để xác định như thế nào là quảng cáo so sánh[10]. Thông thường, trong trường hợp đó ta được phép suy luận rằng, nhà làm luật sử dụng khái niệm này theo cách hiểu thông dụng, phổ biến[11]. Nhưng thực sự tại Việt Nam chưa có cách hiểu thông dụng và phổ biến đó. Ở một mức độ khái quát, ta có thể hiểu quảng cáo so sánh là hành vi luôn quảng cáo cho sản phẩm của mình có nhiều ưu thế hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh khác về cùng loại[12]. Luật Cạnh tranh (2004) trong quá trình xây dựng dường như đã quá tập trung cho lĩnh vực hạn chế cạnh tranh mà chưa quan tâm đúng mức đến pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Đây cũng là một nguyên do để dẫn đến luật này chưa xây dựng khái niệm quảng cáo so sánh mà đơn thuần chỉ cấm quảng cáo so sánh trực tiếp.

(more…)