Archive for the ‘Đề tài, công trình nghiên cứu các cấp’ category

Chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia Asean

Tháng Mười Một 2, 2010


Ths. Trần Thị Quang Hồng

Trương Hồng Quang

Tạp chí Luật học số 7/2010


I. Bối cảnh chung

Chế định về trách nhiệm sản phẩm (Product Liability), hiểu theo nghĩa hẹp, là chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi sản phẩm có khuyết tật gây ra, tức là một loại trách nhiệm dân sự đòi hỏi người có trách nhiệm phải bù đắp bằng một cách thức phù hợp đối với thiệt hại mà người khác phải gánh chịu, dựa trên những cơ sở nhất định làm phát sinh trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm sản phẩm là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng[1]. Cụ thể hơn là, việc xác định trách nhiệm đối với sản phẩm không có bất kỳ đòi hỏi nào về việc giữa người bị thiệt hại và nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm phải tồn tại một quan hệ hợp đồng. Mối liên hệ giữa người phải chịu trách nhiệm và người được xác định thông qua một sản phẩm mà người phải chịu trách nhiệm là người sản xuất hoặc cung ứng và người được bồi thường thiệt hại là người tiêu dùng nó, giữa họ có thể có quan hệ hợp đồng, giao dịch trực tiếp hoặc không có quan hệ hợp đồng[2]. Quốc gia có tính tiên phong trong việc hoàn thiện chế định này theo hướng cho phép quy kết trách nhiệm đối với nhà sản xuất ngay cả khi nhà sản xuất không có lỗi trong việc gây ra khuyết tật của sản phẩm (còn gọi là trách nhiệm nghiêm ngặt – Strict Liability) chính là Hoa Kỳ. Thời điểm ra đời quy tắc trách nhiệm nghiêm ngặt ấy vào khoảng những năm 1950 ở Hoa Kỳ. Sự ra đời của quy tắc ấy nhanh chóng tạo cảm hứng cho các nhà lập pháp, người tiêu dùng, các Hội bảo vệ người tiêu dùng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, nỗ lực luật hoá quy tắc trách nhiệm nghiêm ngặt đối với nhà sản xuất không hề đơn giản.

Ở Châu Âu, cũng phải mất khá nhiều thời gian, các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu mới đạt được sự đồng thuận về sự cần thiết áp dụng quy tắc này trong thực tiễn pháp lý của mình. Sự kiện được đánh dấu là vào năm 1985, Liên minh Châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 85/374/EEC ngày 25 tháng 7 năm 1985 của Uỷ ban của Cộng đồng Châu Âu để hài hoà hoá các quy định bắt buộc trong lĩnh vực pháp luật và hành chính của các nước thành viên về trách nhiệm của các sản phẩm bị khuyết tật[3]. Đến năm 1999, Chỉ thị này được sửa đổi bởi Chỉ thị số 1999/34/EC do Nghị viện và Hội đồng Liên minh Châu Âu ban hành ngày 25 tháng 5 năm 1999 sửa đổi một số điều của Chỉ thị số 85/374/EEC[4].

Ở khu vực Đông Á và các nước ASEAN, tình hình tiếp nhận quy tắc về trách nhiệm sản phẩm có vẻ chậm trễ hơn. Nhật Bản là quốc gia đi tiên phong trong vấn đề này nhưng cũng phải mất hàng chục năm tranh cãi với sự nỗ lực vận động hành lang lớn của các Hội bảo vệ người tiêu dùng, Luật về Trách nhiệm sản phẩm năm 1994 mới được ban hành. Ở Đông Nam Á, việc đưa các quy tắc về trách nhiệm sản phẩm còn muộn hơn (ngoại trừ trường hợp tiên phong là Philippines đã có quy định từ năm 1992). Mức độ tiếp nhận các vấn đề về trách nhiệm sản phẩm cũng không đồng đều giữa các quốc gia và thể hiện quan điểm còn có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong khối về vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Tất nhiên, sự khác biệt này có lẽ cũng còn một nguyên nhân khác là do sự phát triển thiếu đồng đều giữa các quốc gia trong khối ASEAN.

Bài viết sau đây sẽ tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng nội dung chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia thuộc khu vực này nhằm góp phần định hướng cho việc soạn thảo Luật Bảo vệ Người tiêu dùng hiện nay tại Việt Nam[5].

(more…)

Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO SO SÁNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Mười Một 2, 2010
Trương Hồng Quang* 

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 8/2010)


1. Dẫn nhập

Hình thức quảng cáo so sánh (comparative advertising) đã xuất hiện ở Mỹ và nhiều quốc gia Tây Âu cách đây nhiều năm[1] với một lịch sử khá dài nhưng nó cũng là một hiện tượng mới và có mối quan hệ cơ bản với Tòa án. Trước năm 1970, quảng cáo so sánh không được sử dụng thường xuyên vì nó được xem như một câu hỏi nội bộ của các đối thủ cạnh tranh với nhau, và nó được cho rằng nguyên tắc của Luật Cạnh tranh phải đưa ra sự bảo vệ tương xứng. Sự so sánh trong các quảng cáo ngày càng thông dụng hơn, được coi như một thói quen hợp pháp của một nền kinh tế thị trường[2]. Các Tòa án của Mỹ đầu tiên nhận ra rằng, quảng cáo so sánh có những hành vi phức tạp, khó khăn và mang nhiều điểm đặc biệt. Trong khi ở Hoa Kỳ quảng cáo so sánh được công nhận là một dạng của quảng cáo thì tại châu Âu lại chia ra làm nhiều quan điểm khác nhau trong những năm 70 của thế kỷ XX. Họ cho rằng, hình thức này chứa nhiều nguy hiểm và sự rủi ro cho người sử dụng. Đạo luật về Thị trường thương mại của Anh năm 1938 cũng chống lại quảng cáo so sánh và không cho phép các đối thủ cạnh tranh sử dụng. Tư tưởng này cũng ảnh hưởng đến Cộng hòa dân chủ Đức trong những năm 80 của thế kỷ XX (biểu hiện ở Đạo luật chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1986 của nước này). Qua các thời kỳ phát triển của kinh tế thế giới, các doanh nghiệp ngày càng cạnh tranh khốc liệt với nhau nhằm đạt được lợi nhuận nhiều nhất có thể. Các hình thức xúc tiến thương mại là những hành vi thương mại được thương nhân thực hiện phổ biến để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội thương mại trong nền kinh tế thị trường[3] trong đó quảng cáo là một cách thức hữu hiệu. Và tất nhiên quảng cáo so sánh là một trong những hình thức mang tính cạnh tranh cao để các doanh nghiệp có thể quảng bá cho sản phẩm của mình một cách tốt nhất. Do đó, quảng cáo so sánh ra đời là một tất yếu trong xu hướng kinh doanh trên thế giới. Việc có nên cho phép quảng cáo so sánh hay không cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng tất cả đều thống nhất rằng, với quảng cáo so sánh nếu không vận dụng cẩn thận sẽ chỉ là nguồn gây ra các mối xung đột, không đem lại lợi ích gì cho người tiêu dùng[4]. Quảng cáo so sánh là một trong những quan hệ pháp luật cạnh tranh nhạy cảm nhất và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau[5], bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng lại chứa đựng khá nhiều vấn đề phức tạp. Bài viết sau đây sẽ tập trung tìm hiểu các vấn đề chung của quảng cáo so sánh, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến quảng cáo so sánh để từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện trong tương lai.

2. Khái quát chung về quảng cáo so sánh

2.1. Định nghĩa và phân loại quảng cáo so sánh

2.1.1. Định nghĩa quảng cáo so sánh theo pháp luật các nước trên thế giới

Theo Đại từ điển Black’s Law, quảng cáo so sánh được định nghĩa như sau:“Quảng cáo so sánh là quảng cáo mà so sánh một cách đặc biệt nhãn hiệu hàng hóa này với nhãn hiệu hàng hóa khác của cùng một loại sản phẩm”[6]. Dưới góc độ luật pháp, theo một tuyên bố của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commission – FTC) thì: “Quảng cáo so sánh được định nghĩa như là quảng cáo mà so sánh những nhãn hiệu hàng hóa khác theo những thuộc tính khách quan có thể kiểm chứng hoặc giá cả và là sự làm nhận ra nhãn hiệu hàng hóa khác bởi tên, minh họa bằng hình ảnh hoặc thông tin riêng biệt khác”[7].

Tại Liên minh Châu Âu, các nhà lập pháp nhận thấy rằng, có sự hiểu khác nhau về khái niệm quảng cáo so sánh trong pháp luật của các nước thành viên nên việc định nghĩa khái niệm này là cần thiết, vì mục tiêu hài hòa pháp luật[8], nên đã đưa ra một định nghĩa: “Quảng cáo so sánh là mọi quảng cáo làm nhận ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp một doanh nghiệp cạnh tranh hoặc các sản phẩm hoặc các dịch vụ mà một doanh nghiệp cạnh tranh cung ứng”. Theo định nghĩa này, quảng cáo so sánh là quảng cáo làm cho các chủ thể mà nó hướng tới nhận ra đối tượng được so sánh với đối tượng được quảng cáo. Chủ thể mà quảng cáo nhằm tới không chỉ là người tiêu dùng, mà còn có thể là các doanh nghiệp có nhu cầu hợp tác hoặc nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ được quảng cáo. Đối tượng được so sánh với đối tượng được quảng cáo có thể là một doanh nghiệp cạnh tranh, chẳng hạn trong một quảng cáo về doanh nghiệp; hoặc một sản phẩm, dịch vụ trong quảng cáo về sản phẩm, dịch vụ…[9] Tuy nhiên, khái niệm này không chỉ rõ hơn thế nào là sự “làm nhận ra một cách trực tiếp” và sự “làm nhận ra một cách gián tiếp”.

2.1.2. Định nghĩa quảng cáo so sánh theo pháp luật Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam chưa xây dựng khái niệm quảng cáo so sánh. Trước Luật Cạnh tranh (2004), quảng cáo so sánh được đề cập đến trong Luật Thương mại (1997) tại Đ192.2. Nhưng cả Luật Thương mại năm 1997 và 2005; Luật Cạnh tranh (2004) hay Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001; Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đều không định nghĩa quảng cáo so sánh, nghĩa là không nêu các yếu tố cấu thành để xác định như thế nào là quảng cáo so sánh[10]. Thông thường, trong trường hợp đó ta được phép suy luận rằng, nhà làm luật sử dụng khái niệm này theo cách hiểu thông dụng, phổ biến[11]. Nhưng thực sự tại Việt Nam chưa có cách hiểu thông dụng và phổ biến đó. Ở một mức độ khái quát, ta có thể hiểu quảng cáo so sánh là hành vi luôn quảng cáo cho sản phẩm của mình có nhiều ưu thế hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh khác về cùng loại[12]. Luật Cạnh tranh (2004) trong quá trình xây dựng dường như đã quá tập trung cho lĩnh vực hạn chế cạnh tranh mà chưa quan tâm đúng mức đến pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Đây cũng là một nguyên do để dẫn đến luật này chưa xây dựng khái niệm quảng cáo so sánh mà đơn thuần chỉ cấm quảng cáo so sánh trực tiếp.

(more…)

Các nguyên lý của chế định trách nhiệm sản phẩm tại Hoa Kỳ và một số quốc gia

Tháng Mười Một 14, 2009

GS.TS. Lê Hồng Hạnh*

Trương Hồng Quang**

(Bài đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 2/2010)


1. Các nguyên lý cơ bản của chế độ trách nhiệm sản phẩm tại Hoa Kỳ

1.1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ

Trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm (Products Liability) là một định chế pháp luật quan trọng ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Quá trình phát triển chế định pháp luật này gắn liền với nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng trước những nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá sản phẩm. Cội nguồn của vấn đề là ở sự xung đột lợi ích giữa việc chạy đua lợi nhuận với sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tính mạng, sức khoẻ cho người dân. Các doanh nghiệp, do chạy theo lợi nhuận, do để cạnh tranh, các nhà sản xuất có xu hướng bỏ qua những yêu cầu về an toàn nhằm tránh chi phí cao hoặc bỏ qua những cảnh báo về sự nguy hại tiềm tàng của việc sử dụng sản phẩm nhằm tránh việc giảm mức tiêu thụ chúng. Sự phát triển của chế định này là một bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiểm soát các nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm vì lợi ích của cộng đồng. Bản chất của chế định này là các nhà sản xuất và những tổ chức, cá nhân tham gia vào việc tiêu thụ sản phẩm phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho người sử dụng sản phẩm nếu như việc sử dụng chúng tiềm ẩn những nguy hại nhưng không được cảnh báo trước.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢNG CÁO SO SÁNH

Tháng Bảy 25, 2009

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢNG CÁO SO SÁNH

Trích từ đề tài “Quảng cáo so sánh theo pháp luật Liên minh châu Âu và Việt Nam – nghiên cứu dưới góc độ so sánh luật” của Trương Hồng Quang, Sinh viên KT30A, ĐH Luật HN (Giải nhất cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học ĐH Luật HN năm 2008, Khóa luận tốt nghiệp năm 2009).

Quảng cáo là một nghệ thuật nhưng cũng là một chiến trường giữa các thương nhân. Bởi vậy, sự cạnh tranh trong quảng cáo là một điều tất yếu. Xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX, quảng cáo so sánh đang ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu trong kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh. Cho đến bây giờ, trong đời sống hàng ngày, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng có nội dung như “như bột giặt T mới là trắng”, “dầu gội tốt nhất Việt Nam”, “sản phẩm có giá tốt nhất”… Tuy nhiên, pháp luật mỗi nước có những quy định và những quan điểm trong giới chuyên môn khác nhau về loại hình quảng cáo này.
Pháp luật Cạnh tranh được xây dựng và đi vào thực tiễn của Việt Nam chưa lâu. Quảng cáo so sánh là một trong những quan hệ pháp luật cạnh tranh nhạy cảm nhất và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau, bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng lại chứa đựng khá nhiều vấn đề phức tạp. Pháp luật Cạnh tranh cũng như pháp luật thương mại của Việt Nam nói chung còn non trẻ nên những vấn đề phức tạp này được quy định còn khá sơ sài trong hệ thống văn bản pháp luật. Khi xây dựng Luật Cạnh tranh (2004), nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh chưa có sự quan tâm đúng mức của các nhà làm luật và quảng cáo so sánh chỉ là một hành vi nhỏ trong hệ thống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Luật này. Với những nguyên do đó, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, thương mại nói chung cũng như pháp luật về quảng cáo so sánh nói riêng là yêu cầu cần thiết và đòi hỏi có quá trình lâu dài, đi từ những vấn đề nhỏ đến vấn đề phức tạp.
Việc nghiên cứu so sánh, tìm hiểu pháp luật về quảng cáo so sánh trong mối tương quan với pháp luật Liên minh Châu Âu để hoàn thiện những quy định về vấn đề này là để góp phần xây dựng pháp luật cạnh tranh, pháp luật thương mại và tạo một môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh trong hoạt động quảng cáo cũng như nền kinh tế nói chung.
Đối với hành vi quảng cáo so sánh, như đã nói ở trên, là một hành vi nhỏ nên chưa được nghiên cứu nhiều và thiếu chiều sâu cần thiết. Hiện nay chỉ có một số bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề này, đó là: TS. Phan Huy Hồng, Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh – một nghiên cứu so sánh luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, số 01/2007; Ths. Nguyễn Thị Trâm, Áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh về Quảng cáo so sánh và một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 9, tháng 05/2007. Bên cạnh đó, các công trình, bài viết khác về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hoạt động xúc tiến thương mại cũng có đề cập đến hành vi quảng cáo so sánh nhưng với dung lượng rất nhỏ. Nhìn chung, quảng cáo so sánh là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, có các cách tiếp cận mới hơn trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay.
(more…)

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VỀ XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

Tháng Bảy 23, 2009

Chương III

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VỀ XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, để công nhận quyền được chết là một vấn đề lâu dài. Phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối điều này. Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần vào những quan điểm chống lại an tử hiện nay. Điều cần làm bây giờ là thay đổi những quan niệm, những cách nhìn nhận sai lầm về quyền được chết và cái chết êm ả chứ không phải cố gắng ban hành Luật An tử trong điều kiện chưa phù hợp như hiện nay.

I. ĐÁNH GIÁ VỀ XU HƯỚNG XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

1. Một vấn đề còn nằm trong tương lai

Như đã phân tích ở các chương trên, việc nhìn nhận vấn đề chấp nhận quyền được chết ở Việt Nam còn trong tương lai là đúng đắn. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã có những yếu tố và điều kiện ban đầu cho việc xây dựng Luật An tử. Khi Việt Nam đưa quyền được chết vào dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự 2005 tại Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ 6 và 7) là đã bắt đầu cho một hành trình mới: xây dựng Luật An tử. Tuy quyền được chết chưa được thông qua tại kỳ họp này nhưng cũng là sự kiện đóng vai trò ghi dấu mốc đầu tiên cho hành trình này. Thiết nghĩ, xây dựng Luật An tử là xu hướng chung của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Tất cả còn phụ thuộc chủ yếu về mặt thời gian: thích hợp hay chưa thích hợp.

Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người dân. Tuy nhiên, có phải vì thế mà quyền được chết sẽ vĩnh viễn không được công nhận hay không? Không, chắc chắn là không phải như thế. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng thoáng hơn phương Đông thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Còn ở phương Đông, vấn đề không chỉ dừng lại như thế. Làn sóng tư tưởng phương Tây ngày càng tràn vào Châu Á như vũ bão. Thế giới đã thay đổi, hòa nhập hay hòa tan vào dòng chảy toàn cầu hóa đang là bức xúc của nhiều quốc gia. Tuy vậy, quan niệm truyền thống cũng khó mà thay đổi ngay trước những tác động này, chí ít là ở thời điểm hiện tại. Do đó, phong tục, tập quán luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu khi xem xét quyền được chết.

(more…)

TÌNH HÌNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tháng Bảy 23, 2009

Chương II

TÌNH HÌNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Với những vấn đề được trình bày ở chương I, chúng ta chỉ mới biết được các khái niệm ban đầu về quyền được chết và các vấn đề liên quan. Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau trong giới khoa học, đa phần chống lại an tử. Tại sao nước này quy định mà nước khác lại không quy định? Quan điểm của họ như thế nào?

I. QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1. Các quốc gia đã hợp pháp hóa quyền được chết và Luật An tử

Hà Lan đã đi vào lịch sử là Quốc gia đầu tiên áp dụng đạo Luật “cái chết êm ả”. Tháng 11 năm 2000, Hạ Viện Hà Lan đã thông qua dự Luật An tử. Đến ngày 10 tháng 04 năm 2001, với tỷ lệ áp đảo 46/28, Thượng viện Hà Lan đã bỏ phiếu thông qua đạo luật. Trước đó hơn 2 thập kỷ, các bác sỹ Hà Lan đã áp dụng phương pháp “cái chết êm ả” để giúp những người bệnh nặng ra đi. Việc thông qua đạo luật năm 2001 chỉ nhằm hợp pháp hóa một thực tế đã được chấp nhận, nhất là từ khi có bản hướng dẫn “cái chết hỗ trợ” được phác thảo vào năm 1993. Điều tra toàn quốc cho thấy gần 90% người dân nước này ủng hộ Luật An tử vì nó đảm bảo quyền cá nhân[1]. Năm 2006, Hà Lan còn cho phép an tử đối với trẻ em, trẻ sơ sinh mắc bệnh nặng không thể cứu chữa.

(more…)

Những vấn đề lý luận chung về Quyền được chết

Tháng Bảy 23, 2009

Chương 1 của đề tài “Một số vấn đề về Quyền được chết đối với quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam hiện nay” của Trương Hồng Quang, Cựu SV Khóa 30, ĐH Luật HN, đoạt giải cấp Bộ Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học năm 2007.

————————————–

MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn

Chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo và toàn cầu hóa đang làm thay đổi bộ mặt chung của thực tại

Ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ trong gang tấc.

Quyền được sống? Bình thường, dễ hiểu. Quyền được chết? Còn rất mới mẻ và xa lạ. Quyền được chết là một vấn đề còn để mở, bao hàm trong nó nhiều quan niệm khác nhau, đa phần là chống lại. Nó không chỉ còn là vấn đề của y học mà còn thuộc về chính trị, văn hóa, xã hội… Luật pháp xuất phát từ cuộc sống. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản. Do đó, đôi khi luật dễ làm mà lại khó thực hiện. Nên gắn quyền được chết như là một quyền cơ bản của cá nhân và phải được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như các quyền cơ bản khác. Chỉ khi nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật pháp và xã hội thì quyền được chết mới trở thành một vấn đề như bao vấn đề khác. Nếu không, sẽ mãi chỉ là đặc biệt và phức tạp…

Tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về quyền được chết. Người dân Việt hầu hết còn xa lạ với khái niệm này hoặc chỉ nghe mà chưa hiểu hết. Bên cạnh đó, truyền thống Á Đông đang chi phối từng ngày, từng giờ. Do vậy, công trình muốn góp phần tìm hiểu về quyền được chết hiện nay  với mong muốn quyền được chết sẽ không còn xa lạ với mọi người, để mọi người hiểu rõ được bản chất của “cái chết êm ả”. Bên cạnh đó, công trình đề cập đến một số vấn đề trong quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định ở Việt Nam và trên thế giới theo hai hướng chấp nhận và không chấp nhận quyền được chết, đặc biệt là các quốc gia đã hợp pháp hóa Luật An tử với phương pháp: tổng hợp, so sánh và rút ra quan điểm riên. Những tiếp xúc ban đầu bao giờ cũng mở ra chân trời mới. Có thể nó không thay đổi được một quan niệm cũ nhưng lại làm cho cái cũ chấp nhận cái mới. Quyền được chết  là phải như thế, không thể khác.

(more…)