Archive for the ‘Đề tài hướng dẫn’ category

Quyền phúc quyết trong Hiến pháp các nước thuộc khu vực châu Âu

Tháng Năm 25, 2012

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang

Hiến pháp của một số nước khu vực châu Âu có ghi nhận quy định quyền phúc quyết Hiến pháp như: Liên bang Nga, Thụy Sĩ, Đức, Rumani, Ireland, Italia, Pháp, Ba Lan,… Trong đó, quốc gia quy định về quyền phúc quyết Hiến pháp sớm nhất là Ireland với bản Hiến pháp ban hành năm 1937, sau đó lần lượt đến Cộng hòa liên bang Đức (Hiến pháp năm 1946), Cộng hòa Pháp (Hiến pháp năm 1958), Rumani (Hiến pháp năm 1991), Ba Lan (Hiến pháp năm 1997), Thụy Sĩ (Hiến pháp năm 1999),… Bên cạnh đó, Hiến pháp của một số quốc gia khu vực châu Âu cũng quy định phúc quyết đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia và các đạo luật cơ bản của đất nước. Điển hình cho việc mở rộng phạm vi quyền phúc quyết cho nhân dân chính là Hiến pháp của một số quốc gia sau đây:

Quốc gia đầu tiên phải kể đến chính là Cộng hòa liên bang Đức[1]. Tại nước này, phạm vi quyền phúc quyết được mở rộng gần như tối đa. Điều 146 của Hiến pháp năm 1949 quy định Hiến pháp “phải được dân biểu quyết”[2] khi ban hành Hiến pháp mới hay có những nội dung sửa đổi, bổ sung. Đến nay, Hiến pháp đã được sửa đổi tới gần 60 lần (chưa kể đến các lần thay đổi Hiến pháp khác nhau trong lịch sử quốc gia họ, gắn liền với thay đổi thể chế). Tuy nhiên tại quốc gia này bản thân Hiến pháp còn đi xa hơn, không những quy định những văn bản lập pháp phải được phúc quyết (nghĩa là không chỉ quy định chuẩn mực thước đo giới hạn nhà nước được phép làm) mà còn quy định một số vấn đề phải được dân trực tiếp quyết định. Chẳng hạn điều 29 của Hiến pháp quốc gia này quy định phân chia lại địa giới các tiểu bang phải phúc quyết tại các tiểu bang đó. Chính vì vậy, trước đây khi chủ trương mở rộng thủ đô Berlin bằng cách sát nhập thêm tiểu bang Brandenburg, được Chính phủ hai tiểu bang chuẩn bị trong vài năm, sau khi 2 Quốc hội thông qua, đưa ra phúc quyết toàn dân năm 1996 đã bị thất bại (khi tiểu bang Berlin chỉ nhỉnh quá bán còn tiểu bang Brandenburg chỉ đạt 36,57% phiếu thuận[3]). Ngay cả trường hợp Hiến pháp không quy định phúc quyết, Đức vẫn tự động áp dụng ngày một nhiều biện pháp trưng cầu dân ý đối với những văn bản luật vẫn tranh cãi giữa bên chấp thuận và bên phủ quyết trong Quốc hội. Nghĩa là một khi luật pháp tuân thủ nguyên tắc quá bán, nhưng lòng người lại khác, không phải lúc nào cũng theo lý trí, bị phân chia, thì buộc không còn con đường nào khác, phải lấy dân với tư cách chủ nhân, làm thước đo, để họ phúc quyết. Nước Đức đã tiến lên thang bậc mới trên con đường dân chủ, chuyển từ dân chủ gián tiếp sang trực tiếp, bất cứ lúc nào có thể. Bởi không ai khẳng định được mình đại diện cho dân (dân chủ gián tiếp) bằng chính người dân, tự họ định đoạt lấy (dân chủ trực tiếp). (more…)

TỔNG QUAN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT TRONG HIẾN PHÁP CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tháng Năm 25, 2012

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang


Lịch sử lập hiến hơn 200 năm của các nước trên thế giới cho thấy cách thức thông qua và ban hành hiến pháp của các nước khác nhau, nhưng xu hướng chung ngày càng dân chủ hơn, thu hút sự tham gia trực tiếp và mang tính quyết định của người dân vào sự kiện chính trị – pháp lý đặc biệt quan trọng này của đất nước[1]. Sự tham gia của người dân vào hoạt động lập hiến, lập pháp và quản lý nhà nước phụ thuộc khá nhiều vào quy trình lập hiến, mô hình Quốc hội của mỗi quốc gia. Nhìn chung, mô hình Quốc hội có thể có Quốc hội lập hiến (soạn thảo và thông qua Hiến pháp hoặc soạn thảo rồi đưa ra nhân dân thông qua); Quốc hội chỉ lập pháp, không lập hiến và Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp. Có thể thấy trong các mô hình này, mô hình Quốc hội chỉ lập pháp, không lập hiến là mô hình tiệm cận tính dân chủ, đảm bảo sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào các sự kiện quan trọng của quốc gia nhất.

Đa số các quốc gia được nghiên cứu đều cho thấy quy định về quyền “phúc quyết” là một vấn đề thường được nhắc đến trong Hiến pháp của các nước này. Nhìn chung, Hiến pháp các nước không sử dụng thuật ngữ “phúc quyết”, chỉ quy định những nội dung có ý nghĩa như thuật ngữ “phúc quyết” do Việt Nam sử dụng, đó là: Hiến pháp mới hoặc các nội dung sửa đổi Hiến pháp sau khi được cơ quan lập pháp thông qua phải được đưa ra toàn dân lấy ý kiến biểu quyết thông qua; các vấn đề quan trọng của Quốc gia hoặc các đạo luật quan trọng phải được toàn dân biểu quyết thông qua; thậm chí các vấn đề địa giới hành chính của địa phương cũng phải được “phúc quyết” (ví dụ như Hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức ở Điều 29). (more…)

DANH SÁCH ĐỀ TÀI HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM 2011

Tháng Bảy 12, 2011

Người hướng dẫn: NCV. Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

  1. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp, Phạm Thị Hải Yến (Khóa 33, Khoa Hành chính Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội).
  2. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phố biến và giáo dục pháp luật cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam”, Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hương Liên (Khóa 33, Khoa Luật Hình sự, Đại học Luật Hà Nội).

Cuộc thi Tài năng khoa học trẻ Việt Nam năm 2011

Tháng Bảy 2, 2011

Từ năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đổi tên Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” thành Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” nhằm mục đích mở rộng đối tượng tham gia cho các giảng viên trẻ của các trường đại học, học viện trong cả nước. Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” dành cho sinh viên được tổ chức hàng năm, còn Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” dành cho giảng viên trẻ sẽ được tổ chức 2 năm 1 lần vào các năm chẵn, bắt đầu từ năm 2012. (more…)

QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ VẬT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tháng Mười Một 2, 2010

Tên đề tài: QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ VẬT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Người thực hiện: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Hương Liên (SV Khóa 33 Khoa PLHS, Đại học Luật Hà Nội)

Người hướng dẫn: TRƯƠNG HỒNG QUANG (Bộ Tư pháp).

Đề tài là 1 trong 3 đề tài được chọn dự thi cấp Bộ Cuộc thi SV NCKH năm 2010 của ĐH Luật HN, kết quả: Giải Nhất cấp Quốc gia.

Dưới đây là bản tóm tắt đề tài.

1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Cổ vật là những hiện vật cổ xưa, quý hiếm và chứa đựng nhiều điều ẩn chứa bên trong nên đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các ngành khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa,… Trên phương diện pháp lí, các quốc gia đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến di sản văn hóa vật thể nói chung và cổ vật nói riêng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ cổ vật. Tại Việt Nam, cổ vật mới chỉ được quan tâm từ hai thập niên trở lại đây, đặc biệt là giai đoạn 2005-2008. Các vấn đề liên quan đến cổ vật như sưu tầm, khai quật, mua bán,… diễn ra rất sôi động và thu hút sự chú ý của các nhà sưu tập, các thương nhân trong và ngoài nước. Tuy nhiên, đi đôi với sự sôi động đó là hàng loạt các vấn nạn liên quan đến cổ vật như trộm cắp, khai quật trái phép, cổ vật lưu lạc ở nước ngoài, mua bán trái phép cổ vật quốc gia,… đã liên tục xuất hiện và gây khó khăn cho cơ quan quản lí cũng như ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa của dân tộc. Mặc dù Luật Di sản văn hóa đã được ban hành năm 2001 (sửa đổi năm 2009) nhưng thực sự vẫn chưa tạo ra được sự ổn định trong quản lí nhà nước về cổ vật. Một mặt, quản lí nhà nước về cổ vật tại Việt Nam vốn được quan tâm từ cách đây không lâu trong khi thế giới đã mở rộng quản lí cổ vật thông qua nhiều hình thức đa dạng. Mặt khác, đặc điểm hoạt động quản lí nhà nước về cổ vật có các đặc điểm chung của hoạt động quản lí nhà nước nhưng cũng có những đặc điểm riêng biệt và khó khăn hơn do đây là lĩnh vực quản lí di sản văn hóa. Bên cạnh đó, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay khiến cho hoạt động quản lí nhà nước về di sản văn hóa nói chung và cổ vật nói riêng đang phải đứng trước những yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hơn nữa. Do đó, nghiên cứu “Quản lí nhà nước về cổ vật tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” là một trong những yêu cầu cần thiết nhằm đưa ra được những giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này cũng như xây dựng được hệ thống những vấn đề chung về cổ vật và pháp luật về cổ vật.

(more…)