Archive for the ‘Human Rights’ category

Sách “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”

Tháng Bảy 6, 2014

Sách “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”, Tác giả: LG. Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp), NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2014.

Advertisements

Cần xem lại khái niệm “hội” khi xây dựng Luật về hội

Tháng Sáu 14, 2014
Nhận thức về hội ở Việt Nam hiện nay còn là đề tài gây ra nhiều tranh luận, chưa thực sự thống nhất. Trong một thời gian dài, cùng với khái niệm Xã hội dân sự, hội được coi là vấn đề khá nhạy cảm, nên chưa được nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chính vì vậy, dưới góc độ học thuật, việc nghiên cứu về hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 là điều cần thiết.
Ảnh: quyền tự do lập hội là một quyền quan trọng của nhân dân (nguồn: iSEE)
Ảnh: quyền tự do lập hội là một quyền quan trọng của nhân dân (nguồn: iSEE)

Đi tìm một khái niệm mới về hội, trong thời gian qua, các học giả, các chuyên gia pháp luật và cán bộ làm công tác hội đã tranh luận sôi nổi ở nhiều diễn đàn, đưa ra nhiều quan điểm trái chiều với những cách thức tiếp cận đa diện. Cho đến nay, ở Việt Nam, xét ở khía cạnh học thuật và pháp lý, chưa có khái niệm hội theo một cách nhìn toàn diện, thống nhất.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý đều đồng tình rằng, hội là một trong những thành tố của Xã hội dân sự. Chính vì vậy, việc nghiên cứu khái niệm về hội cũng như các vấn đề liên quan đến hội cần phải đặt trong tổng thể của một tập hợp các chủ thể xã hội dưới khái niệm chung là Xã hội dân sự; đồng thời cần xem xét quan hệ của “hội” với tư cách là một thành tố trong Xã hội dân sự với các thành tố khác. Quan sát việc tranh luận về khái niệm, định nghĩa về hội trong thời gian qua, có thể thấy rằng, việc đưa ra khái niệm về hội là công việc hết sức khó khăn, do những đặc thù như sau:

Thứ nhất, về mặt ngôn ngữ: hội là từ được quen dùng ở Việt Nam để chỉ các tổ chức quần chúng, khi mà trong các văn bản của Đảng và các sách báo xuất bản trước đây chúng ta vẫn thường thấy xuất hiện cụm từ “hội quần chúng”. Mức độ sử dụng ngôn ngữ “quen” đến mức, khó có thể sử dụng cụm từ nào mang ý nghĩa phổ biến của quốc tế để thay thế cho hội ở Việt Nam. Dịch ra tiếng Anh, hội sẽ tương đương với “Association”, nhưng khi tìm hiểu khái niệm này, người ta thấy rằng, nội hàm của hội theo cách hiểu ở Việt Nam không đồng nhất với nội hàm của khái niệm “Association”. Trong khi đó, các nước trên thế giới khi nói đến khu vực xã hội dân sự, người ta thường nhắc tới Tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, dù rằng, ở mỗi quốc gia có cách định nghĩa và diễn giải khác nhau.

Thứ hai, về cách tiếp cận khái niệm: hội được thế giới xem xét, nhìn nhận là một trong những thành tố của Xã hội dân sự trong mối quan hệ với nhà nước, thị trường. Trong khi đó, ở nước ta, hội được coi là một trong những thành tố của hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng.

Thứ ba, về yếu tố chủ quan của nhà làm luật: về ý nghĩa ngôn ngữ học, khái niệm hội đã đạt được sự thống nhất khi thể hiện trong các từ điển tiếng Việt. Nhưng khái niệm về hội mà trong thời gian qua được đưa ra xem xét, thảo luận, thực chất, là khái niệm ở khía cạnh pháp lý. Do đó, khi nhà làm luật muốn áp đặt ý chí của mình đến mức độ nào thì sẽ xuất hiện một khái niệm về hội phản ánh ý chí chủ quan ở mức độ đó. Ví dụ, khi muốn công dân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của dự thảo Luật về hội thì trong khái niệm hội sẽ xuất hiện đối tượng này; hoặc nếu nhà làm luật không muốn điều chỉnh các hội không có tư cách pháp nhân thì đối tượng này trong khái niệm hội sẽ bị loại trừ.

Qua việc nghiên cứu một số khái niệm do các tác giả Việt Nam đưa ra, có thể thấy, hội có những đặc điểm sau:

– Là tổ chức tự nguyện của quần chúng;

– Tập hợp của những người có cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích…;

– Hoạt động thường xuyên, liên tục;

– Không vì mục đích lợi nhuận;

– Mục đích hoạt động không trái với lợi ích dân tộc, tổ quốc và trong khuôn khổ pháp luật.

Với nhận thức như trên, hội theo cách hiểu của các tác giả Việt Nam không bao gồm các nhóm và tập thể tự nguyện khác do nhân dân tự nguyện bột phát, tức thời lập ra (các nhóm đó không có điều lệ, không có đóng góp vật chất, sức lực, trí tuệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, cố kết không chặt chẽ và không thường xuyên hành động). Trong khi đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức quần chúng trực thuộc (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) cũng là các hội quần chúng tự nguyện, nhưng được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, quan hệ chặt chẽ và trực tiếp hơn với đảng cầm quyền, chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của đảng cầm quyền, làm nòng cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng. Hội, theo quan niệm của Việt Nam, không bao gồm Đảng chính trị và các tổ chức tôn giáo.

Hiện nay, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội chỉ điều chỉnh đối với những hội có tư cách pháp nhân, có hội viên. Các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; các tổ chức giáo hội không thuộc sự điều chỉnh của quy định về hội. Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam vẫn còn chưa thực sự đồng thuận với quan niệm này của các nhà làm luật. Một số ý kiến cho rằng hội nên được hiểu bao gồm các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu… (trừ các quỹ, trung tâm do hội lập ra), các tổ chức phi chính phủ hay không? Trong khi có tác giả cho rằng hội bao gồm cả hội có hội viên và hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu…) thì hầu hết các tác giả khác lại đề xuất khái niệm, đặc trưng của hội có thêm yếu tố là có hội viên.

Theo quan điểm của chúng tôi, khi xây dựng Luật về Hội thời gian tới cần phải có cách hiểu đầy đủ về hội. Nếu loại trừ các tổ chức phi chính phủ, quỹ, viện, trung tâm độc lập thì có lẽ đã loại trừ đi một số thành tố quan trọng của bất cứ một Xã hội dân sự nào. Bên cạnh đó, nếu vẫn xem Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các thành tố của hệ thống chính trị thì vẫn nên tạo điều kiện cho phép thành lập các hội, tổ chức có tính chất tương tự nếu có đủ điều kiện như Luật định. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về hội như sau: “Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất ba cá nhân hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng. Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp nhân”./.

(more…)

VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH VÀ QUYỀN PHẪU THUẬT CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TẠI VIỆT NAM

Tháng Năm 27, 2014

VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH VÀ QUYỀN PHẪU THUẬT CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang*

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 năm 2014)

Tóm tắt:Bài viết làm rõ nội hàm các quyền xác định giới tính, quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính, quan niệm về người liên giới tính và người chuyển giới đồng thời đánh giá các quy định pháp luật dân sự hiện hành liên quan đến vấn đề này. Từ đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người liên giới tính và người chuyển giới tại Việt Nam thời gian tới.

1. Khái quát về quyền xác định giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Xác định giới tính và phẫu thuật chuyển đổi giới tính là những vấn đề đã và đang tồn tại trong xã hội hiện nay. Vậy liệu có phải hai quyền này là đồng nhất với nhau như quan niệm của nhiều người hay không?

Trước hết phải khẳng định rằng đây là hai vấn đề khác nhau, không đồng nhất. Quyền xác định giới tính liên quan đến nhóm người liên giới tính (intersex) còn quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính liên quan đến nhóm người chuyển giới (transgender). Người liên giới tính và người chuyển giới hoàn toàn khác nhau nhưng đều không phải là một bệnh lý.

Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) định nghĩa các trạng thái liên giới tính là “để chỉ tất cả những trạng thái dẫn đến sự phát triển không điển hình của các đặc điểm giới tính và sinh lý trên cơ thể. Những trạng thái này có thể liên quan đến những đặc điểm bất thường của các bộ phận sinh dục bên ngoài, các cơ quan sinh sản bên trong, nhiễm sắc thể giới tính, hoặc các hormone giới tính”[1]. Bên cạnh đó, Hội người Liên giới tính Bắc Mỹ định nghĩa rằng “Liên giới tính là một thuật ngữ tổng quát để chỉ chung các trạng thái mà khi đó, về mặt tính dục hay sinh sản, một người sinh ra với một cơ thể không có vẻ phù hợp với các định nghĩa thông thường về người nữ hay nam”[2]. Một số ví dụ về các trạng thái liên giới tính là: (more…)

Một số quan điểm về kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay

Tháng Năm 21, 2014

Xem tại địa chỉ:

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6033

 

 

Pháp luật về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam: Những vấn đề cần trao đổi

Tháng Tư 30, 2014

 

http://www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6030

Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam

Tháng Ba 31, 2014

1. Pháp luật dân sự cấm việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính

Văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền của người chuyển giới rất ít. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân tại Điều 36, không quy định quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân. Theo đó, việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Để cụ thể hóa quy định này, ngày 05-08-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”). Như vậy, việc phẫu thuật của người liên giới tính đã có quy định, quy trình, thủ tục rõ ràng; những người đã hoàn thiện về mặt giới tính không được phẫu thuật chuyển giới (khoản 4, Điều 1). Mặc dù Nghị định nói trên không trực tiếp đề cập tới những người chuyển giới, nhưng vô hình trung đây là văn bản duy nhất tới thời điểm hiện tại có quy định một vấn đề của người chuyển giới. Quan điểm ngầm trong Nghị định này là “nếu có khuyết tật bẩm sinh thì mới được phẫu thuật, còn nếu chỉ là mong muốn thì cấm”. Điều đó có nghĩa là, khác với người đồng tính/song tính (pháp luật không có quy định cấm), người chuyển giới bị cấm phẫu thuật chuyển giới để có thể sống thật với bản thân mình.

Cũng cần chú ý rằng, thực ra cách dùng từ “xác định lại giới tính” trong Bộ luật dân sự và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP là không chính xác. Không có sự “lại” nào ở đây. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Việc nghĩ rằng họ cần phải “xác định lại giới tính” thể hiện sự đóng khung của xã hội trong khuôn khổ “trắng – đen” mà không thừa nhận tồn tại của sự đa dạng. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình sẽ nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông. Trong phần Nguyên tắc xác định lại giới tính (Điều 3, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP), có khoản 1 quy định rằng: “Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình”. “Đúng” ở đây nên được hiểu như thế nào? Một đứa trẻ liên giới tính không hoặc chưa có nhu cầu nhưng được cha mẹ cho đi phẫu thuật từ bé, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Còn một người chuyển giới mong muốn được chuyển đổi giới tính nhưng bị ngăn cấm, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Như vậy, đã có một sự mâu thuẫn ở đây, xã hội đã nói với người liên giới tính rằng “tôi thấy anh không ổn, anh cần thay đổi” và nói với người chuyển giới rằng “tôi thấy anh ổn rồi, anh không cần thay đổi” mà không cần biết liệu những người này có ổn thật hay là không và mong muốn thật sự của họ là gì. Đây là những bất cập mà pháp luật cần hoàn thiện trong thời gian tới. (more…)

Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới

Tháng Ba 21, 2014

1. Một số vấn đề chung về người chuyển giới

Khác với người đồng tính hay song tính, việc hiểu về người chuyển giới phải đề cập đến khái niệm bản dạng giới (gender identity). Người đồng tính, song tính liên quan đến khái niệm xu hướng tính dục, chỉ một người có tình cảm, nhu cầu yêu đương với một người cùng giới tính hay khác giới tính với mình. Trong khi đó, khái niệm bản dạng giới được hiểu là việc một người tự nhận mình mang một giới tính nào (có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra)[1]. Có thể hiểu khái quát, nếu một người sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính. Nếu người này có tình cảm với người khác giới tính với mình thì đó là người dị tính.

Tuy nhiên nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới (transgender)[2]. Một điều rất quan trọng là không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới. Có hai dạng người chuyển giới là: người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới)[3], người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới)[4] và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới)[5].

Nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0.1% đến 0.5% dân số[6]. Một điều tra về giám sát một số hành vi thiểu số trong xã hội ở Massachusetts (Mỹ) cho thấy có khoảng 0.5% người trong độ tuổi từ 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới[7]. Gần đây, trong các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tính dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0.3% dân số Mỹ là người chuyển giới[8]. Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới gặp nhiều khó khăn do sự kỳ thị xã hội khiến người chuyển giới không thể hiện hoặc công khai giới tính mong muốn của mình. Số liệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp từ 2.5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam[9]. Điều này có nguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn. Các yếu tố văn hóa, xã hội, quan niệm về vai trò giới và tình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế[10].

Trong xã hội, không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới. Dưới đây xin tóm tắt một số nhận thức sai lầm về người chuyển giới đang tồn tại trong xã hội hiện nay: (more…)