Archive for the ‘Pháp luật Dân sự’ category

Sách “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”

Tháng Bảy 6, 2014

Sách “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”, Tác giả: LG. Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp), NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2014.

Advertisements

VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH VÀ QUYỀN PHẪU THUẬT CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TẠI VIỆT NAM

Tháng Năm 27, 2014

VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH VÀ QUYỀN PHẪU THUẬT CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang*

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 năm 2014)

Tóm tắt:Bài viết làm rõ nội hàm các quyền xác định giới tính, quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính, quan niệm về người liên giới tính và người chuyển giới đồng thời đánh giá các quy định pháp luật dân sự hiện hành liên quan đến vấn đề này. Từ đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người liên giới tính và người chuyển giới tại Việt Nam thời gian tới.

1. Khái quát về quyền xác định giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Xác định giới tính và phẫu thuật chuyển đổi giới tính là những vấn đề đã và đang tồn tại trong xã hội hiện nay. Vậy liệu có phải hai quyền này là đồng nhất với nhau như quan niệm của nhiều người hay không?

Trước hết phải khẳng định rằng đây là hai vấn đề khác nhau, không đồng nhất. Quyền xác định giới tính liên quan đến nhóm người liên giới tính (intersex) còn quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính liên quan đến nhóm người chuyển giới (transgender). Người liên giới tính và người chuyển giới hoàn toàn khác nhau nhưng đều không phải là một bệnh lý.

Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) định nghĩa các trạng thái liên giới tính là “để chỉ tất cả những trạng thái dẫn đến sự phát triển không điển hình của các đặc điểm giới tính và sinh lý trên cơ thể. Những trạng thái này có thể liên quan đến những đặc điểm bất thường của các bộ phận sinh dục bên ngoài, các cơ quan sinh sản bên trong, nhiễm sắc thể giới tính, hoặc các hormone giới tính”[1]. Bên cạnh đó, Hội người Liên giới tính Bắc Mỹ định nghĩa rằng “Liên giới tính là một thuật ngữ tổng quát để chỉ chung các trạng thái mà khi đó, về mặt tính dục hay sinh sản, một người sinh ra với một cơ thể không có vẻ phù hợp với các định nghĩa thông thường về người nữ hay nam”[2]. Một số ví dụ về các trạng thái liên giới tính là: (more…)

Một số quan điểm về kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay

Tháng Năm 21, 2014

Xem tại địa chỉ:

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6033

 

 

Hôn nhân cùng giới và giá trị nhân văn của pháp luật

Tháng Năm 13, 2014

HÔN NHÂN CÙNG GIỚI VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA PHÁP LUẬT

Bài viết muốn cùng độc giả nhìn nhận lại vấn đề hôn nhân cùng giới trong bối cảnh xây dựng thể chế tại Việt Nam thời gian qua và gợi mở một số vấn đề cho thời gian tới.

Có thể nhận thấy trong bất kỳ thời đại nào, đời sống xã hội luôn có sự đa dạng, phong phú nhất định. Sự thể hiện cảm xúc, tình cảm hay xu hướng giới tính không nằm ngoài quy luật đó. Trước đây, chúng ta hầu như chỉ nhắc đến một xã hội với những gia đình là sự kết hợp giữa một nam và một nữ với mục đích chính là duy trì nòi giống. Khi đó, việc một người yêu người cùng giới tính là những điều rất kỳ lạ, thậm chí bị xem là bệnh hoạn. Thực tế đã cho thấy đây là những điều hết sức bình thường của xã hội mặc dù vẫn còn có những quan niệm kỳ thị, xa lánh…

Cho đến nay, rất nhiều tuyên bố của các tổ chức quốc tế, các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng người đồng tính nói riêng và người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) nói chung là những con người tự nhiên của xã hội, không phải là bệnh, không thể lây lan. Chính vì vậy, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bảo vệ quyền của người LGBT chính là nâng cao giá trị nhân văn, giá trị xã hội vốn có của pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến quyền của người LGBT là những vấn đề mới phát sinh trong xã hội, thường gặp nhiều rào cản với nhiều quan điểm khác nhau. Cũng do đó mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton đã xem quyền của người LGBT là một trong những thách thức về nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta[1]. Sự biến chuyển trong nhận thức cũng như hành động thực tế tại Việt Nam về vấn đề hôn nhân cùng giới thời gian cũng có những điểm tích cực rất đáng ghi nhận. (more…)

Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam

Tháng Ba 31, 2014

1. Pháp luật dân sự cấm việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính

Văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền của người chuyển giới rất ít. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân tại Điều 36, không quy định quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân. Theo đó, việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Để cụ thể hóa quy định này, ngày 05-08-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”). Như vậy, việc phẫu thuật của người liên giới tính đã có quy định, quy trình, thủ tục rõ ràng; những người đã hoàn thiện về mặt giới tính không được phẫu thuật chuyển giới (khoản 4, Điều 1). Mặc dù Nghị định nói trên không trực tiếp đề cập tới những người chuyển giới, nhưng vô hình trung đây là văn bản duy nhất tới thời điểm hiện tại có quy định một vấn đề của người chuyển giới. Quan điểm ngầm trong Nghị định này là “nếu có khuyết tật bẩm sinh thì mới được phẫu thuật, còn nếu chỉ là mong muốn thì cấm”. Điều đó có nghĩa là, khác với người đồng tính/song tính (pháp luật không có quy định cấm), người chuyển giới bị cấm phẫu thuật chuyển giới để có thể sống thật với bản thân mình.

Cũng cần chú ý rằng, thực ra cách dùng từ “xác định lại giới tính” trong Bộ luật dân sự và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP là không chính xác. Không có sự “lại” nào ở đây. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Việc nghĩ rằng họ cần phải “xác định lại giới tính” thể hiện sự đóng khung của xã hội trong khuôn khổ “trắng – đen” mà không thừa nhận tồn tại của sự đa dạng. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình sẽ nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông. Trong phần Nguyên tắc xác định lại giới tính (Điều 3, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP), có khoản 1 quy định rằng: “Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình”. “Đúng” ở đây nên được hiểu như thế nào? Một đứa trẻ liên giới tính không hoặc chưa có nhu cầu nhưng được cha mẹ cho đi phẫu thuật từ bé, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Còn một người chuyển giới mong muốn được chuyển đổi giới tính nhưng bị ngăn cấm, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Như vậy, đã có một sự mâu thuẫn ở đây, xã hội đã nói với người liên giới tính rằng “tôi thấy anh không ổn, anh cần thay đổi” và nói với người chuyển giới rằng “tôi thấy anh ổn rồi, anh không cần thay đổi” mà không cần biết liệu những người này có ổn thật hay là không và mong muốn thật sự của họ là gì. Đây là những bất cập mà pháp luật cần hoàn thiện trong thời gian tới. (more…)

Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới

Tháng Ba 21, 2014

1. Một số vấn đề chung về người chuyển giới

Khác với người đồng tính hay song tính, việc hiểu về người chuyển giới phải đề cập đến khái niệm bản dạng giới (gender identity). Người đồng tính, song tính liên quan đến khái niệm xu hướng tính dục, chỉ một người có tình cảm, nhu cầu yêu đương với một người cùng giới tính hay khác giới tính với mình. Trong khi đó, khái niệm bản dạng giới được hiểu là việc một người tự nhận mình mang một giới tính nào (có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra)[1]. Có thể hiểu khái quát, nếu một người sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính. Nếu người này có tình cảm với người khác giới tính với mình thì đó là người dị tính.

Tuy nhiên nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới (transgender)[2]. Một điều rất quan trọng là không nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới. Có hai dạng người chuyển giới là: người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới)[3], người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới)[4] và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới)[5].

Nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0.1% đến 0.5% dân số[6]. Một điều tra về giám sát một số hành vi thiểu số trong xã hội ở Massachusetts (Mỹ) cho thấy có khoảng 0.5% người trong độ tuổi từ 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới[7]. Gần đây, trong các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tính dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0.3% dân số Mỹ là người chuyển giới[8]. Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới gặp nhiều khó khăn do sự kỳ thị xã hội khiến người chuyển giới không thể hiện hoặc công khai giới tính mong muốn của mình. Số liệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp từ 2.5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam[9]. Điều này có nguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn. Các yếu tố văn hóa, xã hội, quan niệm về vai trò giới và tình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế[10].

Trong xã hội, không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới. Dưới đây xin tóm tắt một số nhận thức sai lầm về người chuyển giới đang tồn tại trong xã hội hiện nay: (more…)

Một số kết quả nghiên cứu gần đây

Tháng Ba 19, 2014
  1. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số tháng 4 năm 2013.
  2. Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, tháng 6/2013.
  3. Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả), Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 5/2013.
  4. Một số vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 6/2013.
  5. Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013 (tác giả)
  6. Thực trạng áp dụng các quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 về vấn đề công khai cho nhân dân biết, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 12/2013 (tác giả)
  7. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số tháng 1/2014 (tác giả)
  8. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6007, ngày 10-02-2014
  9. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6008, ngày 12-02-2014
  10. Quyền kết hôn của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4, tháng 2/2014 (tác giả)
  11. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 2/2014.
  12. Đề tài: “Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Nghiệm thu đạt loại xuất sắc năm 2014.