Archive for the ‘Luật Dân sự’ category

Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam

Tháng Mười Một 9, 2013

Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2013.

Image

Advertisements

Người chuyển giới tại Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý

Tháng Mười Một 4, 2013

Bài viết về Người chuyển giới cách đây gần một năm bây giờ mới được in trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21/2013 (tháng 11/2013). Nói chung là phải kiên nhẫn chờ đợi và bất cứ vấn đề gì cũng nên có cái nhìn hệ thống, toàn diện.

Image

Số chuyên đề LGBT năm 2013

Tháng Mười Một 1, 2013

Tác giả: Trương Hồng Quang

Đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh là LGBT*) là vấn đề không còn mới mẻ trên thế giới hiện nay. Đây được xem là vấn đề có tính lịch sử, chính trị, pháp lý, xã hội… rất cao. Bản thân người LGBT là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (thiểu số về tình dục) của bất cứ xã hội nào, thường chỉ chiếm từ 3-5% dân số của mỗi quốc gia. Ngay cả các nhà hoạch định chính sách đôi khi chưa thực sự hiểu hết về cộng đồng này. Bên cạnh đó, các yếu tố chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, định kiến, sự kỳ thị… cũng tác động rất lớn đến đời sống cũng như quá trình phát triển của người LGBT. Trong những bối cảnh như vậy, quá trình đấu tranh quyền của người LGBT và nâng cao nhận thức của xã hội về cộng đồng này rất khó khăn và lâu dài. Hiện nay, trên thế giới còn có nhiều nước hình sự hóa quan hệ đồng tính, bỏ tù người đồng tính, cấm tuyên truyền về người đồng tính, không công nhận quan hệ sống chung của người đồng tính, không cho nhận con nuôi chung, các cặp đôi đồng tính nếu được sống chung phải nộp thuế cao hơn bình thường, không chấp nhận người chuyển giới,… Ngay cả nhiều nước được xem là dân chủ, tiến bộ cũng vẫn còn tồn tại nhiều sự kỳ thị, định kiến, bất công đối với người LGBT. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton từng phát biểu rằng quyền của người LGBT là một trong những những thách thức về nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta**.

Tại Việt Nam, vấn đề LGBT trong những năm gần đây đang dần nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và cơ quan hoạch định chính sách. Tuy nhiên, nhận thức về cộng đồng người LGBT của xã hội Việt Nam còn khá lạc hậu và đang tồn tại nhiều sự kỳ thị rất rõ nét. Pháp luật hiện hành cũng chưa thực sự tiếp cận đầy đủ với các giá trị xã hội của người LGBT. Hiện nay Việt Nam cũng đang trong quá trình sửa đổi/ban hành một số các đạo luật có liên quan đến quyền của người LGBT (Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hộ tịch…) nhưng mức độ tiếp cận với các vấn đề về LGBT còn nhiều hạn chế khác nhau. (more…)

Tiếp tục về quyền được chết

Tháng Chín 26, 2013

Nếu được công nhận thì có nên đưa quyền được chết vào trong Hiến pháp hay không?

Đại ý, dự thảo Hiến pháp có quy định mọi người có quyền sống. Một số ý kiến cho rằng vậy mọi người có quyền được chết hay không? Thực ra Hiến pháp chỉ nên quy định những quyền cơ bản của con người, của công dân. Quyền được sống là quyền cơ bản vì được áp dụng cho tất cả mọi người (trong đó có cả các trường hợp bệnh nhân bị bệnh nan y không thể cứu chữa nhưng nếu họ muốn sống, tiếp tục duy trì tình trạng đó thì không ai có thể quyết định họ phải ra đi). Trong khi đó, nếu pháp luật ghi nhận thì quyền được chết chỉ áp dụng cho một số đối tượng cụ thể như bệnh nhân bị bệnh nan y. Vì vậy, Hiến pháp không nhất thiết quy định quyền được chết của con người và quyền được chết cũng không cần thiết phải xem là quyền cơ bản. Cũng cần lưu ý rằng, việc Hiến pháp ghi nhận một số quyền không có nghĩa là phủ nhận những quyền khác của con người. Theo tiến trình phát triển của xã hội, hoàn toàn có thể có những quyền mới được ghi nhận trong pháp luật (dĩ nhiên là không trái với Hiến pháp). Việc luật hóa quyền được chết có thể đưa vào Bộ luật Dân sự hay một đạo luật riêng với tên gọi là Luật An tử. Đây cũng là xu hướng chung của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đã luật hóa quyền này (một số bang của Hoa Kỳ, Bỉ, Hà Lan…).

Lại êm ả êm ả :-D

Tháng Chín 25, 2013

Hôm nay lại được hỏi ý kiến về cái chết êm ái nhưng ở một lĩnh vực khác. Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo Luật Dân số và dự định đưa vấn đề “lựa chọn cái chết êm ái” vào Luật này. Thực ra điều này là không hợp lý. Thực chất pháp luật dân số quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, chất lượng dân số, các biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số. Trong khi đó, về mặt lý thuyết thì an tử, hay chính xác hơn là quyền được chết là một quyền nhân thân. Nếu được công nhận, trước hết phải được ghi nhận thành một quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự. Sau đó có thể hướng dẫn cụ thể quyền này ở một đạo Luật an tử hoặc một Nghị định của Chính phủ. Việc đưa vấn đề an tử vào Luật Dân số là không phù hợp. Cũng nên phân biệt rằng: an tử khác tự tử. Đây là hai hình thức hoàn toàn khác nhau. An tử cũng không làm gia tăng tự tử vì để được có quyền an tử thì phải đáp ứng rất nhiều điều kiện, và phải có sự tham gia của bác sỹ, cơ sở y tế. Quyền được chết là một quyền có điều kiện và không ai có quyền bắt buộc một người khi rơi vào hoàn cảnh vô phương cứu chữa phải chết cả .

Khắc khoải sống và lối thoát ‘quyền được chết’

Tháng Ba 10, 2013

Khắc khoải sống và lối thoát ‘quyền được chết’

Đời sống và Pháp luật ngày 6/3/2013.

Mỗi ngày còn thở, họ phải sống chung với những cơn đau quằn quại, với thiết bị y tế quấn quanh người… hình ảnh này không có gì xa lạ với các bệnh nhân ung thư, những bệnh nhân bị rơi vào tình trạng sống thực vật. Sự sống của họ được đếm từng ngày và được đếm bằng số tiền mà người nhà có thể “xoay” được.

 

Dốc toàn bộ gia sản cho… “chết mòn”

Đã hai năm, nhưng trường hợp bệnh nhân Nguyễn Văn H. (55 tuổi, quê Phú Thọ) từng điều trị tại bệnh viện K (Quán Sứ, Hà Nội) vẫn khiến tôi ám ảnh khôn nguôi. Phát hiện ra căn bệnh ung thư dạ dày đã ở giai đoạn cuối, mỗi ngày với ông H. đều như một cực hình. Những đợt xạ trị khiến cơ thể nặng khoảng 55kg của ông H. héo mòn từng ngày, xuống còn 35kg. Mái tóc lốm đốm điểm sợi bạc, dần rơi rụng, thay vào đó là cái đầu trọc lóc. Mỗi lần cơn đau kéo đến, cơ thể ông H. co cụm, dúm dó lại, nhìn rất xót xa. Ngày cuối đời, trong căn phòng trọ gần bệnh viện K cũng là lần cuối cùng tôi được gặp ông.

Ông vừa nói, vừa khóc: “Tôi chỉ mong được nhận một liều thuốc nhân đạo để tôi chết được êm ả, để bản thân tôi không phải đau đớn kéo dài. Vợ con cũng không phải khổ sở, tốn kém tiền bạc cho tôi chữa bệnh trong tuyệt vọng”. Nghe những lời tâm sự đó của ông, chúng tôi thấy lòng quặn lại. Vợ ông H. thì chỉ biết khóc. Công sức, tiền của gia đình ông H. đổ vào để duy trì sự sống kèm với đau đớn cũng không chống lại được định mệnh. Một đám tang vội vàng trong một buổi chiều đông mưa phùn, có lẽ như phần nào thương cảm cho số phận người ra đi và cả khoảng trống để lại trong gia đình ông. Kèm theo đó là khoản tiền cả trăm triệu đồng nợ nần sau thời gian điều trị đã giáng thêm đòn chí mạng nữa, quật ngã người vợ và những người con của gia đình ông H.

Y sĩ Nguyễn Hồng Thanh, bệnh viện Quân y 103 chia sẻ, những năm tháng công tác trong ngành y, anh và các đồng nghiệp không ít lần chứng kiến những câu chuyện đau lòng về các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, chuyển sang đời sống thực vật. Bản thân những người bệnh bị đau đớn, còn người thân cũng khổ không kém. Với những bệnh nhân ung thư thì cảm nhận cái chết đến từng ngày là điều khó khăn nhưng còn đối với những bệnh nhân bị rơi vào tình trạng sống thực vật thì người thân của họ còn đau đớn hơn nữa.

Nhiều bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo mong muốn được “ra đi” nhẹ nhàng.

Y tá Chu Thị Lan, người thường xuyên nhận chăm sóc bệnh nhân sống thực vật điều trị tại bệnh viện Việt Đức kể về trường hợp bệnh nhân nam, tên Đ., 29 tuổi (quê Quảng Ninh), đã nằm hai năm trên giường bệnh. Có lẽ nếu như các gia đình khác, bệnh nhân này chắc chắn đã không thể sống qua ba tháng vì số tiền để duy trì sự sống quá lớn. Ngày anh Đ. bị tai nạn giao thông phải phẫu thuật, sau đó bị nhiễm trùng cũng là những ngày bắt đầu tàn lụi của cả nhà anh. Số tiền bán hai căn nhà (vài tỷ đồng) chỉ đủ để gia đình anh Đ. mỗi ngày nhìn thấy con họ nằm trên giường bệnh một cách vô hồn.

Còn nhớ cách đây không lâu, câu chuyện một bệnh nhân ung thư là Việt kiều Mỹ, tên A., sống tại quận 3 (TP.HCM) từng viết đơn xin chính quyền được chết đúng ngày, giờ tốt để con cháu được… hưởng phúc về sau khiến dư luận không khỏi xôn xao. Bác sĩ riêng dự đoán, ông A. chỉ còn sống được chừng ba tháng. Trước lúc mất, ông A. có đi xem tử vi. “Thầy” tử vi đã chọn được cho ông giờ và ngày đẹp để “ra đi” với hy vọng để phúc lại cho con cháu.

Tin lời “thầy”, ông A. muốn được chết êm ái. Tuy nhiên, ý nguyện cuối đời của ông A. không thể thực hiện. Sợ chết đau đớn, ông A. trằn trọc không biết nên lựa cách tiêm thuốc hay uống thuốc độc để “ra đi” được nhẹ nhàng. Sau đó, ông A. còn nghĩ phải sắp xếp làm sao cho việc chết tự nguyện của mình không gây phiền phức cho bất kỳ ai. Trong khi đó, bác sĩ của ông A. thì từ chối tiêm thuốc, còn những người thấu hiểu tâm tình của ông lại không chịu giúp ông mua thuốc độc. Quá bức bách, không muốn mình sống mà khổ hơn chết, ông A. làm đơn xin chính quyền địa phương xác nhận để bác sĩ có điều kiện hợp pháp giúp đỡ ông chết. Tuy nhiên, mọi yêu cầu của ông đều bị từ chối.

Những trường hợp trên chỉ là một trong số rất ít người muốn được chọn cái chết êm ả. Bởi họ không thể chịu nổi những đau đớn về thể xác, tinh thần và nỗi lo về kinh tế để lại cho người thân.

Có nên duy trì nỗi đau đớn dai dẳng?

Ông Trương Hồng Quang, viện Nghiên cứu Pháp lý, bộ Tư Pháp cho rằng: “Tại Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu hay thống kê nào về số bệnh nhân xin chết hoặc đánh giá tổn thất nếu không ghi nhận quyền được chết, vì thực tế rất khó để thực hiện. Tuy nhiên một sự thật hiển nhiên là bệnh nhân dù bị bệnh nan y nhưng tiếp tục điều trị thì chi phí đương nhiên rất tốn kém và điều quan trọng là tốn kém trong vô ích… Nhiều nước trên thế giới thường tổ chức điều tra toàn quốc về quan điểm của người dân, đồng ý hay không đồng ý quyền được chết và tỉ lệ ủng hộ có xu hướng tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, nhất là các nước châu Âu.

Cụ thể, năm 2012, theo thống kê, ở Cộng hòa liên bang Đức có đến 87% người dân ủng hộ quyền được chết một cách êm ái. Thường thì nhà lập pháp các nước quan tâm đến vấn đề chỉ cần qua một số vụ việc xin được chết, chưa cần đến việc thống kê xem hiện nay có bao nhiêu người xin chết hay nếu không ghi nhận thì tổn thất như thế nào, để đưa ra những khuyến nghị…”.

Theo quan điểm của luật sư Nguyễn Tân Việt, văn phòng luật sư Triệu Dũng và cộng sự (Hà Nội), trước đây, năm 2005, khi bàn về việc sửa đổi Bộ luật Dân sự, các nhà làm luật nước ta từng tranh cãi rất nhiều xung quanh cái gọi là quyền được chết. Bởi lẽ, thực tế đã xuất hiện những người mắc bệnh hiểm nghèo, phải chịu đựng đau đớn vật vã, thậm chí sống đời sống thực vật cả đời. Trong số đó, chính một số người bệnh và một số người thân của người bệnh muốn họ được ra đi êm ái. Tại diễn đàn Quốc hội cũng đã có đại biểu đề nghị cần luật hóa quyền được chết. Tuy nhiên, cuối cùng, số đông vẫn cho rằng theo phong tục của dân tộc và đạo đức người Á Đông, quy định về quyền được chết tại thời điểm này là không phù hợp. Ở nước ta, quyền được sống là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người. Bất kỳ ai giúp đỡ người khác chết là vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý hình sự.

Ông Quang cũng cho rằng, với trình độ y tế, luật pháp… của Việt Nam, nếu luật hóa quyền được chết, chỉ nên ghi nhận việc an tử chủ động. Nghĩa là việc quyết định “ra đi” hay không phải do bệnh nhân khi đó còn có ý thức, có khả năng đưa ra quyết định một cách trực tiếp, độc lập. Trường hợp an tử đối với những bệnh nhân đã hôn mê, sống thực vật, nếu để cho gia đình quyết định có lẽ khó áp dụng vì dễ bị lạm dụng. Hơn nữa, với thực tế Việt Nam việc áp dụng một chế định mới nào đó cũng nên có giai đoạn cụ thể, không thể ngay một lúc chấp nhận toàn bộ được. Quyền được chết là một quyền tùy nghi, do bệnh nhân lựa chọn, không phải cứ quy định quyền được chết đồng nghĩa với việc nếu một người rơi vào tình huống y tế vô phương cứu chữa phải chọn cái chết.

Theo quan điểm của ông Quang, việc ghi nhận quyền được chết sẽ góp phần nâng cao giá trị xã hội của pháp luật. Xã hội ngày càng phát triển, thể chế về quyền con người nên được tiếp tục tiến vào quá trình chung của thế giới. Xu hướng thế giới đã cho thấy, ngày càng có thêm các quốc gia ghi nhận quyền này hoặc chí ít cũng ghi nhận hình thức trợ giúp tự tử. Về mặt giá trị kinh tế, ghi nhận quyền được chết làm giảm chi phí chữa trị vô ích của gia đình bệnh nhân và xã hội. Việc để một người “ra đi” sớm thay vì phải sống đau đớn, vật vã là một điều nhân đạo.

Có thể sẽ phạm tội giết người

Luật sư Nguyễn Tân Việt, văn phòng luật sư Triệu Dũng và cộng sự cho biết: “Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào về việc tự nguyện được chết. Việc giúp người khác chết có thể sẽ phạm tội “giết người” theo Điều 93, hoặc tội “xúi giục hoặc giúp người khác tự sát” theo Điều 101, Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, mặc dù, bác sỹ chỉ làm theo yêu cầu của bệnh nhân. Nếu người đó muốn chết thì chỉ có cách tự tử chứ không thể yêu cầu người khác giúp mình chết, như thế sẽ vi phạm pháp luật”.

Đỗ Thơm – Hoàng Anh

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

Tháng Một 22, 2013

Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính

 

Trương Hồng Quang

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội) số 24, tháng 12 năm 2012

 

1. Một số vấn đề về đồng tính

Image

Thứ nhất, “đồng tính” là từ viết tắt của cụm từ “đồng tính luyến ái” (homosexuality) là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law)[1], sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul  của Gustav Jager[2], Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft – Ebing[3]. Từ đó, thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người song tính[4]. Ngày nay, đồng tính luyến ái còn được gọi bằng các từ ngữ khác như: gay chỉ người đồng tính nam, les hay lesbianchỉ người đồng tính nữ. Ở Việt Nam còn có một số từ như: “bóng”, “bóng kín”, “đồng cô”, “pê đê” (dùng cho nam), “ô môi” (dùng cho nữ).

Thứ hai, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association – APA) không đưa ra lý giải khoa học cho hiện tượng đồng tính mà chỉ nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó, nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hoà nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này. APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973. Đồng thời vào tháng 12/1992, APA đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùng hành động để bảo vệ quyền lợi của những người đồng tính luyến ái: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không hề hàm chứa việc có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy, trong năng lực xã hội chung hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính luyến ái), APA kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần học ở các quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt pháp lý đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực hiện mọi việc có thể để giảm đi những sỉ nhục có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào”[5]Hiện nay, các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết đều cho rằng, khuynh hướng tình dục trên chịu sự chi phối của cả yếu tố sinh học và xã hội. Trường phái tâm thần học của Sigmund Freud đưa ra quan điểm “Trong khi hầu hết loài người sinh ra với khuynh hướng tình dục dị giới thì tâm sinh lý, với sự phát triển riêng của mình, do các yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối, đã tạo ra hiện tượng đồng tính luyến ái”[6]. Kết quả các cuộc nghiên cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học và nhi khoa khác đều đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là hiện tượng bình thường trong tự nhiên, những người có khuynh hướng tình dục trên hoàn toàn không phải do sự lựa chọn chủ quan của họ. Ngày 17/5/1990 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xoá bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần – đây là dấu mốc quan trọng góp phần hạn chế những quan niệm sai lầm về người đồng tính.

Thứ ba, cần phải hiểu rằng đồng tính là xu hướng/thiên hướng tính dục, không phải là một giới tính như suy nghĩ của nhiều người. Bản thân người đồng tính về mặt sinh học họ vẫn là nam giới/nữ giới và cũng không phải là người lưỡng giới (có thể yêu cả nam lẫn nữ). Số lượng người đồng tính (có khuynh hướng tình dục đồng giới) chiếm số lượng rất ít trong xã hội. Họ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương (bị đẩy vào thế bất bình đẳng) nên rất cần được sự quan tâm, chia sẻ của xã hội, không nên có các hành vi kỳ thị, xa lánh chỉ vì họ là người đồng tính[7]. Người đồng tính thường phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu hướng tình dục không phổ biến này. Những vấn đề mà người đồng tính thường gặp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của bản thân họ như: vấn đề thay đổi xu hướng tình dục đồng tính luyến ái[8], hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia)[9], công khai xu hướng tình dục của người đồng tính[10]. (more…)