Archive for the ‘Luật Sở hữu trí tuệ’ category

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SHTT

Tháng Sáu 18, 2011

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trương Hồng Quang

Nghiên cứu viên, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

 1. Khái quát chung

1.1. Các quy định về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ – bộ phận không thể thiếu của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Trách nhiệm hiểu theo nghĩa chung nhất là “điều phải làm, phải gánh vác, phải nhận lấy về mình”. Học thuyết Macxit về bản chất xã hội của con người đã đưa ra những lý giải đúng đắn về trách nhiệm cá nhân: Vì rằng con người không thể tách mình ra khỏi xã hội và cuộc sống cộng đồng đòi hỏi phải có các quy phạm điều chỉnh xử sự của họ theo một trật tự chung nhất định, khi con người bằng ý thức và ý chí của mình lựa chọn cách xử sự đi trái với lợi ích của xã hội, người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, hoặc là trách nhiệm xã hội hoặc là trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý là hệ thống những quy định của nhà nước về các biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi được quy định ở các chế tài của quy phạm pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho những người bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của chủ thể khác. Ở các nước khác nhau thì vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định khác nhau về hình thức bồi thường và cách xác định thiệt hại. Tuy nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất: “Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại”. Nguyên tắc này đã được thể hiện một cách rõ ràng trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới như:

– Điều 1382 Bộ Luật dân sự (BLDS) Pháp qui định: “Bất cứ hành vi nào của một người gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại; Điều 1383 BLDS Pháp cũng qui định: “Mỗi người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự cẩu thả hoặc không thận trọng”.

– Điều 420 BLDS Thái Lan qui định: “Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm một hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó”.

– Điều 416 BLDS Nhật Bản qui định: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ có giá trị đối với việc bồi thường các thiệt hại mà bình thường sẽ xảy ra do việc không thực hiện trái vụ. Trái chủ có quyền được bồi thường cả những thiệt hại xảy ra trong những tình huống đặc biệt, nếu các bên biết trước hoặc phải biết trước những tình huống đó”.

Trong BLDS Việt Nam năm 2005, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được qui định thành một chương riêng (chương XXI). Theo Điều 604: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: “Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: (i) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; (ii) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; (iii) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; (iv) Buộc bồi thường thiệt hại; (v) Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại hàng hoá, nguyên vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ”. (more…)

Advertisements

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Tháng Sáu 13, 2011

Lê Thị Hoàng Thanh*, Trương Hồng Quang**

Bài đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số tháng 6/2011.

I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

1. Cơ sở pháp lý

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có lịch sử khá lâu đời ở Nhật Bản, văn bản đầu tiên về quyền tác giả ở Nhật Bản là Sắc lệnh về xuất bản, Shuppan Jorei, được ban hành năm 1869, bảo hộ việc xuất bản sách[1], Sắc lệnh này được sửa đổi vào năm 1875. Năm 1876, Sắc lệnh về hình ảnh đã được ban hành.

Đạo luật đầu tiên về quyền tác giả  được ban hành vào năm 1899. Văn bản luật này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Công ước Berne để đáp ứng cho việc Nhật Bản gia nhập công ước này. Đạo luật này có hiệu lực cho đến khi được thay thế bởi Luật quyền tác giả, Luật số 48 năm 1970. Luật Quyền tác giả được sửa đổi vào các năm 1984, 1985, 1988, 1989, 1992. Và vào năm 1994, Luật quyền tác giả được sửa đổi nhằm đảm bảo thực thi Hiệp định TRIPs. Luật Quyền tác giả được sửa đổi lần cuối cùng vào năm 2004 (Luật số 92 năm 2004).

Nhật Bản gia nhập Công ước Brussels năm 1948 và Công ước Paris năm 1971 và công ước Berne năm 1974. Đến năm 1978 Nhật Bản gia nhập Công ước Bảo hộ ghi âm- còn gọi là Công ước Geneva. Năm 1989, Nhật Bản chấp nhận gia nhập Công ước Rome về quyền kế cận.

Luật quyền tác giả Nhật Bản phân biệt khá rõ quyền tinh thần và quyền kinh tế (Điều 17.1 Luật Quyền tác giả). Cả hai quyền nay để đều đương nhiên được bảo hộ. Việc đăng ký không phải là để xác lập quyền tác giả mà có ý nghĩa củng cố quyền tác giả. Khi có tranh chấp tại Toà án, người đăng ký bản quyền sẽ có lợi. Thông thường khi có tranh chấp trách nhiệm chứng minh thuộc về nguyên đơn, nếu có đăng ký rồi thì nguyên đơn không phải chứng minh nữa mà bị đơn có trách nhiệm chứng minh (Điều 75, Điều 76, Điều 77 Luật quyền tác giả). Một khi đã xác lập quyền, người sở hữu quyền tác giả không cần phải chứng minh quyền tinh thần và quyền kinh tế trước toà, có thể hành động phù hợp với những hành vi có nguy cơ đe doạ quyền. Chủ sở hữu quyền có thể kiện ra tòa yêu cầu tòa bảo hộ quyền tinh thần và quyền kinh tế. Tòa án sẽ ra lệnh tiêu hủy các sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng như các công cụ để sản xuất các sản phẩm vi phạm và áp dụng các biện pháp khác. Chủ sở hữu quyền còn có thể tìm sự trợ giúp từ phía Cục Văn hóa, cơ quan có quyền trung gian hòa giảI trong các vụ việc về quyền tác giả (Điều 105 (1), Luật quyền tác giả). Tuy nhiên hội đồng hòa giải chỉ đưa ra ý kiến chứ không đưa ra quyết định mang tính bắt buộc. (more…)

Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Tháng Năm 23, 2011

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trương Hồng Quang  

 

          2.1. Vấn đề phân loại lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật sở hữu trí tuệ

Như đã phân tích ở các chương trên, theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành thì việc xác định hình thức lỗi cũng chỉ có ý nghĩa trong một số trường hợp nhất định. Trong một số trường hợp, lỗi vô ý là một trong những điều kiện cần để được xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Còn mọi trường hợp gây thiệt hại do lỗi cố ý thì luôn phải chịu trách nhiệm bồi thường “toàn bộ”[1]. Theo như phân tích tại chương I, các quốc gia trên thế giới xem việc phân loại lỗi có ý nghĩa rất quan trọng, ví dụ như pháp luật của Đức cho phép Toà án có quyền xem xét để giảm mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm được xác định là do lỗi vô ý nhẹ.

Theo pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam, việc phân loại lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thực sự có nhiều ý nghĩa và không ảnh hưởng đến bất cứ yếu tố nào trong toàn bộ cơ chế bồi thường thiệt hại. Một hành vi xâm phạm dù là do lỗi vô ý, cố ý hay không có lỗi đều phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại thực tế gây ra. Điều này có lẽ xuất phát từ quan điểm pháp lý của Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ trương khôi phục các quan hệ dân sự bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm của các nước và thực tiễn tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt nam hiện nay, có thể thấy, việc phân hoá trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo mức độ lỗi cũng như tính nghiêm trọng trong hành vi vi phạm là điều cần thiết phải tính đến một mặt nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân, mặt khác, đảm bảo tốt hơn tính hiệu quả, công bằng trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật. (more…)

Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việt Nam

Tháng Tư 22, 2011

Dưới đây là kết quả nghiên cứu chính của đề tài NCKH: “NGHIÊN CỨU, SO SÁNH CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC  TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM” do TS. Đinh Thị Mai Phương (Viện Khoa học Pháp lý) làm Chủ nhiệm, nhóm tham gia thực hiện bao gồm:

1.                           NCS. Nguyễn Văn Cương – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, Thư ký.

2.                           ThS. Trần Thị Quang Hồng – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

3.                           CN. Lê Thị Hoàng Thanh – Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

4.                           CN. Trương Hồng Quang, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

5.                           NCS. Chu Thị Hoa – Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

6.                           CN. Phạm Văn Bằng, Nghiên cứu viên Ban Nghiên cứu pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp.

7.                           CN. Nguyễn Hoàng Nhật Thi, Cộng tác viên.

8.                           Chuyên gia Triệu Thị Hoàng Mai, Cộng tác viên.

9.                           Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

10.                      Công ty Luật Lê & Lê, Hà Nội.

(more…)

Một số đánh giá pháp luật bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của các nước trên TG

Tháng Mười Một 4, 2010

Trương Hồng Quang

1. Về những nét tương đồng của pháp luật các quốc gia về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, Về nguồn của pháp luật. Đa số các nước được nghiên cứu đều sử dụng một nguồn luật quan trọng là án lệ trong xét xử các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại. Đây là nguồn luật cơ bản và thiết yếu bên cạnh hệ thống pháp luật hiện hành của các quốc gia này. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia khác như Trung Quốc – một quốc gia Châu Á vẫn chưa xem án lệ là nguồn luật cơ bản cho nên pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn là nguồn luật cơ bản nhất đối với chế định bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, Về nguyên tắc bồi thường.

– Pháp luật một số nước như Liên minh Châu Âu, Pháp, Nhật Bản đều thừa nhận nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” trên quan điểm coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại là biện pháp nhằm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm, theo đó “Sự bồi thường thiệt hại phải toàn bộ trong tất cả các trường hợp và không được vượt quá tổng số thiệt hại. Và “những thiệt hại được bồi thường đối với nạn nhân phải khiến cho nạn nhân không mất đi, cũng như không được thêm ra các lợi ích”. Bên cạnh đó, nghiên cứu các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự Trung Quốc 1986, tại Điều 117 và 118 cũng quy định rõ:“nguyên tắc cơ bản để bồi thường thiệt hại trong các vụ án dân sự là sự bồi thường mang tính bù đắp thiệt hại hơn là sự bồi thường mang tính răn đe và trừng phạt”. Trong các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Trung Quốc, nguyên tắc được thể hiện rõ nhất trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nguyên tắc bồi thường toàn bộ những thiệt hại xảy ra trên thực tế. Toà phúc thẩm Liên Bang Đức cũng đã ra tuyên bố rằng: Sẽ không có hiệu lực ở Đức đối với các phán quyết của Mỹ về phần bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt dân sự vì phán quyết này vi phạm trật tự công cộng của Đức.

(more…)

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SÁNG CHẾ CỦA NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Tháng Mười Một 2, 2010

Lê Thị Hoàng Thanh*

Trương Hồng Quang**


I. GIỚI THIỆU CHUNG

Trong số các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thì bồi thường thiệt hại được xem là biện pháp bảo vệ có tính thiết thực và mang lại hiệu quả cao. Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, đối với chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ, biện pháp này sẽ giúp họ có thể bù đắp được những tổn thất về mặt kinh tế mà họ đã phải gánh chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra. Thứ hai, đối với người đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì bồi thường thiệt hại tác động bất lợi tới tài sản của người vi phạm, ngăn ngừa khả năng tiếp tục xâm phạm. Bài viết này sẽ phân tích việc bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sáng chế tại Nhật Bản theo quy định của pháp luật Nhật Bản và phán quyết của Toà án.

Cũng như hầu hết các nước ở Châu Á, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Nhật Bản diễn ra khá phổ biến và phức tạp. Trước sức ép của việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, chính quyền Nhật Bản đã rất nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ[1].

Theo hệ thống pháp luật Nhật Bản, quyền sở hữu trí tuệ khá rộng với hai loại: pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp và pháp luật về quyền sở hữu không mang tính công nghiệp. Có 4 quyền sở hữu công nghiệp gồm: Quyền sáng chế; Giải pháp hữu tích; Quyền thiết kế; Quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá. Có 5 quyền sở hữu không mang tính công nghiệp được ghi nhận trong pháp luật Nhật Bản: Quyền tác giả; Thiết kế bố trí mạch tích hợp; Tên thương mại; Bí mật thương mại; Quyền đối với giống cây trồng. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được thực hiện bằng ba biện pháp chính: biện pháp hành chính, biện pháp hình sự và biện pháp dân sự. Và bồi thường thiệt hại là một trong các biện pháp dân sự hữu hiệu để chống lại hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, khắc phục những ảnh hưởng mà người bị xâm hại gánh chịu.

Trên thực tế, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng thủ tục tố tụng dân sự rất mất thời gian, khó khăn trong việc xác định chứng cứ, tính toán mức thiệt hại nên hầu hết những người bị xâm hại e ngại với việc khởi kiện người xâm hại tại Toà án vì hết sức khó khăn trong việc tìm đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế. Đại bộ phận những người bị xâm hại đề nhờ đến luật sư gửi giấy cảnh cáo tới người xâm hại, yêu cầu người xâm hại chấm dứt hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương lượng để bù đắp một khoản tiền (với những vi phạm quyền sở hữu sáng chế thông thường người bị xâm hại yêu cầu người xâm hại ký hợp đồng sử dụng sáng chế, trả tiền cho việc sử dụng sáng chế đó). Việc giải quyết với nhau bằng phương pháp hoà giải thành là rất nhiều, ít khi đưa đến tố tụng Trong trường hợp việc hoà giải, thương lượng không thành công, người bị xâm hại quyền sở hữu trí tuệ có làm đơn đến toà án yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đình chỉ vi phạm, sau đó làm thủ tục tố tụng dân sự. Các tranh chấp dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ do Toà án cấp tỉnh giải quyết[2].

(more…)