Archive for the ‘Pháp luật hành chính Nhà nước’ category

Người chuyển giới trong đời sống xã hội và pháp luật Việt Nam

Tháng Ba 31, 2014

1. Pháp luật dân sự cấm việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính

Văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền của người chuyển giới rất ít. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân tại Điều 36, không quy định quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân. Theo đó, việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Để cụ thể hóa quy định này, ngày 05-08-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”). Như vậy, việc phẫu thuật của người liên giới tính đã có quy định, quy trình, thủ tục rõ ràng; những người đã hoàn thiện về mặt giới tính không được phẫu thuật chuyển giới (khoản 4, Điều 1). Mặc dù Nghị định nói trên không trực tiếp đề cập tới những người chuyển giới, nhưng vô hình trung đây là văn bản duy nhất tới thời điểm hiện tại có quy định một vấn đề của người chuyển giới. Quan điểm ngầm trong Nghị định này là “nếu có khuyết tật bẩm sinh thì mới được phẫu thuật, còn nếu chỉ là mong muốn thì cấm”. Điều đó có nghĩa là, khác với người đồng tính/song tính (pháp luật không có quy định cấm), người chuyển giới bị cấm phẫu thuật chuyển giới để có thể sống thật với bản thân mình.

Cũng cần chú ý rằng, thực ra cách dùng từ “xác định lại giới tính” trong Bộ luật dân sự và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP là không chính xác. Không có sự “lại” nào ở đây. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Việc nghĩ rằng họ cần phải “xác định lại giới tính” thể hiện sự đóng khung của xã hội trong khuôn khổ “trắng – đen” mà không thừa nhận tồn tại của sự đa dạng. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình sẽ nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông. Trong phần Nguyên tắc xác định lại giới tính (Điều 3, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP), có khoản 1 quy định rằng: “Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình”. “Đúng” ở đây nên được hiểu như thế nào? Một đứa trẻ liên giới tính không hoặc chưa có nhu cầu nhưng được cha mẹ cho đi phẫu thuật từ bé, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Còn một người chuyển giới mong muốn được chuyển đổi giới tính nhưng bị ngăn cấm, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Như vậy, đã có một sự mâu thuẫn ở đây, xã hội đã nói với người liên giới tính rằng “tôi thấy anh không ổn, anh cần thay đổi” và nói với người chuyển giới rằng “tôi thấy anh ổn rồi, anh không cần thay đổi” mà không cần biết liệu những người này có ổn thật hay là không và mong muốn thật sự của họ là gì. Đây là những bất cập mà pháp luật cần hoàn thiện trong thời gian tới. (more…)

Advertisements

Một số kết quả nghiên cứu gần đây

Tháng Ba 19, 2014
  1. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số tháng 4 năm 2013.
  2. Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, tháng 6/2013.
  3. Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả), Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 5/2013.
  4. Một số vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 6/2013.
  5. Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013 (tác giả)
  6. Thực trạng áp dụng các quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 về vấn đề công khai cho nhân dân biết, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 12/2013 (tác giả)
  7. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số tháng 1/2014 (tác giả)
  8. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6007, ngày 10-02-2014
  9. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6008, ngày 12-02-2014
  10. Quyền kết hôn của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4, tháng 2/2014 (tác giả)
  11. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 2/2014.
  12. Đề tài: “Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Nghiệm thu đạt loại xuất sắc năm 2014.

Bảo vệ thành công đề tài Nhận diện các vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay

Tháng Ba 19, 2014

1. Tên đề tài: “NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”

2. Chủ nhiệm đề tài: CN. Trương Hồng Quang, Nghiên cứu viên, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

3. Thời gian thực hiện theo hợp đồng nghiên cứu: 1 năm (tháng 6/2013-6/2014).

4. Thời gian hoàn thành thực tế: Tháng 11/2013; Thời gian nghiệm thu chính thức: Tháng 3/2014.

5. Kết quả bảo vệ: Xuất sắc (5/5 phiếu).

Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của Đề tài NCKH cấp cơ sở

NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Giới thiệu chung về Đề tài

Có thể nhận thấy trong bất kỳ thời đại nào, đời sống xã hội luôn có sự đa dạng, phong phú nhất định. Sự thể hiện cảm xúc, tình cảm hay xu hướng giới tính không nằm ngoài quy luật đó. Trước đây, chúng ta hầu như chỉ nhắc đến một xã hội với những gia đình là sự kết hợp giữa một nam và một nữ với mục đích duy trì nòi giống. Khi đó, việc một người yêu người cùng giới tính hay mong muốn có giới tính khác là những điều rất kỳ lạ, thậm chí bị xem là bệnh hoạn. Thực tế, đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh: LGBT[1]) là hiện tượng đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội và được khắc họa rõ nét trong xã hội hiện đại ngày nay. (more…)

QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang*

 (Tạp chí Luật học, số tháng 2/2014)

  1. Khái quát thực tiễn pháp luật đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư hiện hành

Phát triển bền vững là đòi hỏi tất yếu của các quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Hơn nữa, phát triển bền vững của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn do nhiều lý do, trong đó có sự yếu kém của công tác quản lý. Quá trình phát triển kinh tế xã hội tạo ra nhiều nguy cơ đối với phát triển bền vững và vì thế đòi hỏi Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp giảm thiểu các nguy cơ này trong nhiều hoạt động khác nhau, đặc biệt là hoạt động đầu tư thông qua các dự án cụ thể. Phát triển bền vững không phải là thuộc tính đương nhiên của các dự án đầu tư. Để có sự phát bền vững cần lồng ghép để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong từng dự án và biến chúng trở thành thành tố của mọi quá trình đầu tư. Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện việc lồng ghép này. Để thực hiện vai trò này, pháp luật cần đáp ứng được các yêu cầu nhất định như: thể hiện đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững xuyên suốt các giai đoạn của dự án đầu tư, phát huy vai trò của tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư và tôn trọng các quy luật thị trường trong quá trình can thiệp vào các dự án đầu tư.

Phát triển bền vững là phát triển dựa trên sự cân bằng: cân bằng về tự nhiên, cân bằng về mặt kinh tế và cân bằng về xã hội. Chỉ có sự phát triển cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình phát triển, tức là tạo cho tất cả cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Các dự án đầu tư có thể mang lại thành quả song cũng có thể mang lại rủi ro cho phát triển bền vững do có sự chi phối của ý chí con người, sự xuất hiện của các lợi ích xung đột[1]. Để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ dự án đầu tư, pháp luật phải đảm bảo được sự cân bằng giữa các lợi ích của chủ thể liên quan dự án đầu tư, bao gồm: lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng dân cư có liên quan đến dự án đầu tư. Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các quy định pháp luật cần bao quát đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế, an sinh và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường[2]. Pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này. Pháp luật hiện hành tuy đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững trong các dự án đầu tư song vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: (more…)

Người chuyển giới tại Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý

Tháng Mười Một 4, 2013

Bài viết về Người chuyển giới cách đây gần một năm bây giờ mới được in trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21/2013 (tháng 11/2013). Nói chung là phải kiên nhẫn chờ đợi và bất cứ vấn đề gì cũng nên có cái nhìn hệ thống, toàn diện.

Image

Số chuyên đề LGBT năm 2013

Tháng Mười Một 1, 2013

Tác giả: Trương Hồng Quang

Đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh là LGBT*) là vấn đề không còn mới mẻ trên thế giới hiện nay. Đây được xem là vấn đề có tính lịch sử, chính trị, pháp lý, xã hội… rất cao. Bản thân người LGBT là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (thiểu số về tình dục) của bất cứ xã hội nào, thường chỉ chiếm từ 3-5% dân số của mỗi quốc gia. Ngay cả các nhà hoạch định chính sách đôi khi chưa thực sự hiểu hết về cộng đồng này. Bên cạnh đó, các yếu tố chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, định kiến, sự kỳ thị… cũng tác động rất lớn đến đời sống cũng như quá trình phát triển của người LGBT. Trong những bối cảnh như vậy, quá trình đấu tranh quyền của người LGBT và nâng cao nhận thức của xã hội về cộng đồng này rất khó khăn và lâu dài. Hiện nay, trên thế giới còn có nhiều nước hình sự hóa quan hệ đồng tính, bỏ tù người đồng tính, cấm tuyên truyền về người đồng tính, không công nhận quan hệ sống chung của người đồng tính, không cho nhận con nuôi chung, các cặp đôi đồng tính nếu được sống chung phải nộp thuế cao hơn bình thường, không chấp nhận người chuyển giới,… Ngay cả nhiều nước được xem là dân chủ, tiến bộ cũng vẫn còn tồn tại nhiều sự kỳ thị, định kiến, bất công đối với người LGBT. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton từng phát biểu rằng quyền của người LGBT là một trong những những thách thức về nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta**.

Tại Việt Nam, vấn đề LGBT trong những năm gần đây đang dần nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và cơ quan hoạch định chính sách. Tuy nhiên, nhận thức về cộng đồng người LGBT của xã hội Việt Nam còn khá lạc hậu và đang tồn tại nhiều sự kỳ thị rất rõ nét. Pháp luật hiện hành cũng chưa thực sự tiếp cận đầy đủ với các giá trị xã hội của người LGBT. Hiện nay Việt Nam cũng đang trong quá trình sửa đổi/ban hành một số các đạo luật có liên quan đến quyền của người LGBT (Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hộ tịch…) nhưng mức độ tiếp cận với các vấn đề về LGBT còn nhiều hạn chế khác nhau. (more…)

Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành

Tháng Sáu 25, 2013
Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành
Bài viết này lấy nhiều thông tin trong bài viết của mình nhưng chú thích chán quá 🙂

1. Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển của các thế hệ quyền con người cho thấy, quyền dân sự (cùng với quyền chính trị) là thế hệ quyền xuất hiện đầu tiên gắn liền với cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây. Sự xuất hiện mang tính khởi đầu này tuy không là yếu tố hoàn toàn nhưng cũng có thể được coi là một căn cứ để đánh giá vai trò, tầm quan trọng của nhóm quyền dân sự so với các nhóm quyền khác. Bởi, chỉ khi nó được phần đông cộng đồng quan tâm trước tiên và trên hết thì quyền dân sự mới được các cá nhân đòi hỏi, yêu cầu hưởng thụ sớm đến như vậy. Mặc dầu quyền dân sự – một trong những quyền con người nói chung – là quyền tự nhiên do tạo hóa ban tặng, mặc nhiên được thừa nhận mà không cần sự ban phát từ chủ thể mang quyền lực nhà nước. Đặc trưng của nhóm quyền dân sự mang tính thụ động nghĩa là không cần có sự can thiệp từ phía nhà nước, cá nhân cũng có thể tự mình thực hiện. Điều này cũng chính là yêu cầu để đảm bảo thực thi quyền dân sự – hạn chế đến mức thấp nhất khả năng can thiệp của cơ quan công quyền góp phần làm tăng tính hiệu quả trong việc hưởng thụ quyền dân sự. Tuy nhiên, quyền dân sự của cá nhân sẽ có nguy cơ và thực tế đang bị xâm hại bởi vô số các chủ thể mà nhiều nhất là chủ thể mang quyền lực nhà nước. Bởi vậy, đòi hỏi phải có sự ghi nhận, bảo vệ quyền dân sự bằng các quy định của pháp luật.

Với sự ảnh hưởng của nhóm quyền dân sự đến đời sống cộng đồng và nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi chính đáng đó, hàng loạt các văn bản pháp luật mang tầm quốc tế và quốc gia được ban hành đã ghi nhận quyền dân sự nhằm khẳng định sự tôn trọng, đề cao và bảo vệ quyền, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng xâm phạm của các chủ thể đến sự hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trong trường hợp có vi phạm xảy ra. Trên cơ sở của các văn bản pháp luật quốc tế có ghi nhận về quyền dân sự (như Hiến chương Liên hiệp quốc; Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người 1948; Công ước quốc tế về Quyền dân sự, chính trị 1966), các bản Hiến pháp của Việt Nam cũng đã có sự nội luật hóa, chuyển tải nội dung quyền dân sự với tư cách là thành viên tham gia ký kết các điều ước quốc tế này.

Qua bốn bản Hiến pháp của Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992), quyền dân sự được ghi nhận và ngày càng hoàn thiện dần cả về nội dung và hình thức thể hiện cho phù hợp với các điều kiện khách quan thay đổi và với xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài thực thi quy định của Hiến pháp nói chung, các quy định về quyền con người, quyền dân sự nói riêng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, khiến việc triển khai thi hành các quyền dân sự gặp nhiều khó khăn… Các nhà lập hiến Việt Nam trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành cũng hết sức quan tâm, chú trọng đến các quyền dân sự hiện diện trong Hiến pháp, thể hiện bằng việc: trong xây dựng Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 (Dự thảo) đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, đưa ra những sửa đổi, bổ sung hợp lý, tiến bộ. Tuy nhiên, sự sửa đổi, bổ sung đó cũng chưa hẳn đã đem lại sự thay đổi đáng kể, hoàn thiện một bước căn bản cho các quy định của Hiến pháp hiện hành về quyền dân sự. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm ra những điểm tiến bộ mà dự thảo đã đạt được và xem xét những điểm chưa có sự thay đổi đáng kể hay đã thay đổi nhưng chưa thực sự hợp lý, từ đó đưa ra một vài kiến nghị trên cơ sở đề xuất sửa đổi trực tiếp một số điều khoản trong dự thảo về quyền dân sự, góp phần hoàn thiện các quy định của Hiến pháp về nhóm quyền dân sự của cá nhân.

2. Những quy định tiến bộ của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với Hiến pháp hiện hành

Với quan điểm sửa đổi toàn diện các quy định của Hiến pháp hiện hành cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, các quy định về nhóm quyền dân sự cũng được quan tâm và có nhiều sửa đổi đáng khích lệ như sau:

Thứ nhất, có thể khẳng định rằng, Dự thảo đã có sự kế thừa những giá trị khoa học về nội dung và kỹ thuật lập hiến trong các bản Hiến pháp trước. Các quyền dân sự tiến bộ của Hiến pháp 1992 được tiếp tục kế thừa trên cơ sở có sự thay đổi về kỹ thuật lập hiến nhằm đảm bảo tính khả thi của các quyền. Hiến pháp trước đây, khi quy định nội dung các quyền dân sự thường kèm theo cụm từ “theo quy định của pháp luật” phía sau mỗi quyền, điều này có vẻ như là một “cánh cửa mở” giúp trải rộng nội hàm các quyền dân sự mà không bị bó hẹp bởi những cụm từ mang tính khái quát cao như Hiến pháp quy định. Tuy nhiên, cũng chính quy định này lại làm vô hiệu hóa việc thực hiện các quyền dân sự của công dân, của con người vì thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời làm giảm vai trò, tầm quan trọng của các quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung và dễ tạo điều kiện cho một số chủ thể quản lý quy định các quyền dân sự bằng văn bản dưới luật. Với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành, dự thảo lần này đã khắc phục phần lớn các hạn chế nêu trên bằng việc cắt bỏ, sửa đổi các cụm từ “theo quy định của pháp luật” trong một số quy định chuyển thành “theo luật định”.

 Thứ hai, Dự thảo đã có sự kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp của các nước trên thế giới như đã đưa quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung trở về đúng vị trí xứng đáng với tầm quan trọng của quyền đó là xếp vị trí thứ hai chỉ sau chương về chế độ chính trị. Không những vậy, nhiều quyền dân sự còn được “đẩy” lên trước nhóm quyền chính trị, kinh tế,… Có thể đơn cử như sau: quyền sống (Điều 21 Dự thảo); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 22); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 23),… sau đó mới đến quyền bầu cử của công dân (Điều 28), quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân (Điều 29),  quyền biểu quyết của công dân khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 30),…

Thứ ba, đã cân bằng được cấu trúc giữa các quyền trong nhóm quyền dân sự bằng cách xóa một phần nội dung của quyền hoặc nhập các quyền có nội dung tương thích lại với nhau thành một điều luật (ví dụ: nhập Điều 55 và 59 của Hiến pháp hiện hành thành Điều 38 của Dự thảo,…). Số lượng các quyền được bổ sung cho nhóm quyền dân sự ngày càng được mở rộng hơn so với trước đây tạo sự cân đối so với các nhóm quyền khác (theo quy định của Hiến pháp1992 nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội có số lượng chiếm ưu thế nhiều hơn) bằng việc xuất hiện nhiều quyền hoàn toàn mới trong dự thảo như: quyền sống (Điều 21 Dự thảo)… Điều này đã chứng tỏ, sự quan tâm, chú trọng của Nhà nước ta đối với nhóm quyền dân sự – được xem là hạt nhân của luật nhân quyền quốc tế.

Thứ tư, Dự thảo đã mở rộng chủ thể của nhóm quyền dân sự.

Nếu như, Chương V Hiến pháp 1992 xác định chủ thể quyền quá hẹp (hầu hết điều khoản về quyền đều ấn định chủ thể của quyền là “công dân”). Điều này không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế và xu thế chung của Hiến pháp trên thế giới trong đó đối với phần lớn các quyền, chủ thể quyền được xác định là “mọi người” (tức là cả công dân và người nước ngoài, người không quốc tịch đang hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia). Về hạn chế nêu trên, Dự thảo đã khắc phục khá triệt để. Hầu hết tất cả những quyền có thể áp dụng cho cả người nước ngoài đều đã được chuyển đổi đại từ nhân xưng chỉ chủ thể quyền từ “công dân” sang “mọi người” hoặc “không ai”. Sự thay đổi này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với nhóm quyền dân sự, bởi lẽ đây được xác định là nhóm quyền thiêng liêng, tự nhiên, bẩm sinh dành cho tất cả mọi người. Do đó, nó không thể bị hạn chế về chủ thể thụ hưởng quyền.

3. Những hạn chế của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với  Hiến pháp hiện hành

Dự thảo đã có những sửa đổi, bổ sung tiến bộ giúp hoàn thiện dần các quy định về quyền dân sự, tuy nhiên sự sửa đổi, bổ sung đó vẫn chưa triệt để, vẫn còn nhiều điểm hạn chế ít nhiều tác động đến việc hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân như sau:

  Thứ nhất, chưa có sự  nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ, vẫn còn nhiều điều khoản sử dụng cụm từ “theo pháp luật”, “do pháp luật quy định” hoặc “theo quy định của pháp luật”, cụ thể như sau:

   Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73): 2…Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định.

   Điều 24 (giữ nguyên Điều 68): Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

   Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69): Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

 Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 74): 2…Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nhiều quyền dân sự quy định còn thiếu tính chặt chẽ (đặc biệt đối với các quyền mới) chẳng hạn như quy định tại Điều 21 của Dự thảo về quyền sống: “Mọi người có quyền sống” lại quy định một cách quá sơ sài, mặc dù việc đưa quyền này vào Dự thảo Hiến pháp là hoàn toàn tiến bộ, đáng ghi nhận. Dẫu biết, quyền sống là quyền tự nhiên, là quyền cố hữu của mọi con người nhưng không có nghĩa là không bị giới hạn. Đối với các tội phạm nguy hiểm cần phải loại bỏ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội thì hình phạt tử hình vẫn được áp dụng. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở nội dung “Mọi người có quyền sống” như Điều 21 của Dự thảo là không phù hợp với thực tiễn chính sách hình sự ở nước ta cũng như nội dung của công ước về quyền dân sự, chính trị 1966.

Thứ ba, còn tồn tại nhiều quyền quy định chưa có tính logic (ví dụ như: Điều 23 Dự thảo“…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định”), mang tính chất “ban phát”, “đề phòng” của Nhà nước đối với công dân thường thể hiện dưới cấu trúc: “công dân có quyền…” hoặc “mọi người có quyền” (như: Điều 22 Dự thảo “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm..”; Điều 23 Dự thảo: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác…”; Điều 25 Dự thảo “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật…”).

4. Những kiến nghị cụ thể, sửa đổi, bổ sung một số quyền dân sự của Dự thảo

4.1. Quyền đi lại và cư trú

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68) Dự thảo quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”.

Thứ nhất, theo chúng tôi, nên xác định đây không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền con người. Bởi lẽ, vấn đề đi lại và cư trú là những nội hàm quan trọng không thể thiếu thuộc về bản năng di chuyển để sinh tồn của loài người. Do đó, đối tượng thụ hưởng quyền này là không thể giới hạn. Mặt khác, việc mở rộng phạm vi quyền con người hiện nay là phù hợp với xu thế hội nhập của thế giới.

Thứ hai, thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” bằng “theo quy định của luật” vì quy định như Dự thảo sẽ không đảm bảo được sự tương thích với các quy định tại Điều 15 và 20 (Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định). Mặt khác, các quy định như Dự thảo sẽ dẫn đến tình trạng, các quyền cơ bản của con người của công dân sẽ bị xâm phạm bởi chính các chủ thể có thẩm quyền khi ban hành các văn bản pháp luật tùy tiện, cản trở, hạn chế, thu hẹp quyền con người, quyền công dân.

Vì vậy, điều này cần được thể hiện như sau:

Điều 24…

Mọi người có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài theo luật định. Công dân Việt Nam có quyền từ nước ngoài về nước theo quy định của luật”.

4.2. Quyền về hôn nhân và gia đình

Điều 39 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 64) quy định:

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Theo chúng tôi, cần xác định lại chủ thể của quyền kết hôn và ly hôn bởi lẽ:

 Thứ nhất, theo quan niệm truyền thống, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống, còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Vì lẽ đó, gốc rễ để hình thành nên nền tảng của một gia đình, chính là sự kết hợp tình yêu giữa nam và nữ (đây được xem là hôn nhân dị tính –  giữa hai người khác giới tính với nhau) Tuy nhiên hiện nay, thế giới còn biết đến hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới (gọi tắt là cộng đồng LGBT). Thực tế, mọi người sinh ra, không ai được tự do lựa chọn giới tính cho chính mình vì mỗi một cá thể người là một sản phẩm của tạo hóa tạc ra. Do đó, sợi dây kết nối tình cảm của con người với nhau cũng xuất phát từ bản ngã tự nhiên ấy. Việc thừa nhận hôn nhân của những người thuộc cộng đồng LGTBT không làm xói mòn hay phá vỡ các giá trị của hôn nhân truyền thống cũng như không gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của các nhóm công dân khác mà ngược lại còn làm tăng thêm tính nhân văn, tăng thêm các giá trị thuộc về quyền con người.

Thứ hai, hiện nay, việc thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới không phải là câu chuyện đi ngược lại với quy luật của tạo hóa mà chính là con người đang sống đúng với sự ban tặng của tạo hóa. Vì vậy, dường như thế giới đã có cái nhìn thiện cảm và cởi mở hơn đối với hôn nhân của cộng đồng LGBT. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hiệp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012)[1].., xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại. Không những vậy, nhiều quốc gia hiện nay như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Thụy Điển,… đã thừa nhận hôn nhân của LGBT. Điều này cho thấy, động thái tiếp nhận tích cực của nhân loại đối với các vấn đề liên quan đến giới tính và bản dạng giới.

Thứ ba, về tính thống nhất với các quy định khác của Dự thảo Hiến pháp: Dưới góc độ này, các nội dung quy định tại Điều 39 không thống nhất với các Điều 15 và Điều 17của dự thảo. Điều 15 và 17 đã khẳng định ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm, chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy, tất cả các quyền của con người, quyền công dân phải được bảo đảm và bình đẳng, không ai bị phân biệt đối xử và chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp (không có trường hợp do xu hướng tính dục hay bản dạng giới[2]). Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 và Điều 39 đã giới hạn một số quyền của cộng đồng LGBT dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, không đảm bảo tính bình đẳng, nhân văn của Hiến pháp, pháp luật, không có tác dụng trong việc bảo vệ cộng đồng LGBT. Nếu không điều chỉnh quy định Điều 39 sẽ làm giảm tính thống nhất của Dự thảo Hiến pháp.

Do đó, theo chúng tôi, Điều này nên được sửa đổi như sau:

Thay cụm từ “nam, nữ” bằng “mọi người”; bỏ cụm từ “một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”; thêm mục 3 để phù hợp hơn với truyền thống tốt đẹp cùa gia đình Việt Nam.

 “1. Mọi người có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.

 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

3. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.” (more…)