Archive for the ‘Luật Hiến pháp’ category

Người chuyển giới tại Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý

Tháng Mười Một 4, 2013

Bài viết về Người chuyển giới cách đây gần một năm bây giờ mới được in trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21/2013 (tháng 11/2013). Nói chung là phải kiên nhẫn chờ đợi và bất cứ vấn đề gì cũng nên có cái nhìn hệ thống, toàn diện.

Image

Advertisements

Số chuyên đề LGBT năm 2013

Tháng Mười Một 1, 2013

Tác giả: Trương Hồng Quang

Đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh là LGBT*) là vấn đề không còn mới mẻ trên thế giới hiện nay. Đây được xem là vấn đề có tính lịch sử, chính trị, pháp lý, xã hội… rất cao. Bản thân người LGBT là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (thiểu số về tình dục) của bất cứ xã hội nào, thường chỉ chiếm từ 3-5% dân số của mỗi quốc gia. Ngay cả các nhà hoạch định chính sách đôi khi chưa thực sự hiểu hết về cộng đồng này. Bên cạnh đó, các yếu tố chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, định kiến, sự kỳ thị… cũng tác động rất lớn đến đời sống cũng như quá trình phát triển của người LGBT. Trong những bối cảnh như vậy, quá trình đấu tranh quyền của người LGBT và nâng cao nhận thức của xã hội về cộng đồng này rất khó khăn và lâu dài. Hiện nay, trên thế giới còn có nhiều nước hình sự hóa quan hệ đồng tính, bỏ tù người đồng tính, cấm tuyên truyền về người đồng tính, không công nhận quan hệ sống chung của người đồng tính, không cho nhận con nuôi chung, các cặp đôi đồng tính nếu được sống chung phải nộp thuế cao hơn bình thường, không chấp nhận người chuyển giới,… Ngay cả nhiều nước được xem là dân chủ, tiến bộ cũng vẫn còn tồn tại nhiều sự kỳ thị, định kiến, bất công đối với người LGBT. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton từng phát biểu rằng quyền của người LGBT là một trong những những thách thức về nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta**.

Tại Việt Nam, vấn đề LGBT trong những năm gần đây đang dần nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và cơ quan hoạch định chính sách. Tuy nhiên, nhận thức về cộng đồng người LGBT của xã hội Việt Nam còn khá lạc hậu và đang tồn tại nhiều sự kỳ thị rất rõ nét. Pháp luật hiện hành cũng chưa thực sự tiếp cận đầy đủ với các giá trị xã hội của người LGBT. Hiện nay Việt Nam cũng đang trong quá trình sửa đổi/ban hành một số các đạo luật có liên quan đến quyền của người LGBT (Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hộ tịch…) nhưng mức độ tiếp cận với các vấn đề về LGBT còn nhiều hạn chế khác nhau. (more…)

Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành

Tháng Sáu 25, 2013
Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành
Bài viết này lấy nhiều thông tin trong bài viết của mình nhưng chú thích chán quá 🙂

1. Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển của các thế hệ quyền con người cho thấy, quyền dân sự (cùng với quyền chính trị) là thế hệ quyền xuất hiện đầu tiên gắn liền với cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây. Sự xuất hiện mang tính khởi đầu này tuy không là yếu tố hoàn toàn nhưng cũng có thể được coi là một căn cứ để đánh giá vai trò, tầm quan trọng của nhóm quyền dân sự so với các nhóm quyền khác. Bởi, chỉ khi nó được phần đông cộng đồng quan tâm trước tiên và trên hết thì quyền dân sự mới được các cá nhân đòi hỏi, yêu cầu hưởng thụ sớm đến như vậy. Mặc dầu quyền dân sự – một trong những quyền con người nói chung – là quyền tự nhiên do tạo hóa ban tặng, mặc nhiên được thừa nhận mà không cần sự ban phát từ chủ thể mang quyền lực nhà nước. Đặc trưng của nhóm quyền dân sự mang tính thụ động nghĩa là không cần có sự can thiệp từ phía nhà nước, cá nhân cũng có thể tự mình thực hiện. Điều này cũng chính là yêu cầu để đảm bảo thực thi quyền dân sự – hạn chế đến mức thấp nhất khả năng can thiệp của cơ quan công quyền góp phần làm tăng tính hiệu quả trong việc hưởng thụ quyền dân sự. Tuy nhiên, quyền dân sự của cá nhân sẽ có nguy cơ và thực tế đang bị xâm hại bởi vô số các chủ thể mà nhiều nhất là chủ thể mang quyền lực nhà nước. Bởi vậy, đòi hỏi phải có sự ghi nhận, bảo vệ quyền dân sự bằng các quy định của pháp luật.

Với sự ảnh hưởng của nhóm quyền dân sự đến đời sống cộng đồng và nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi chính đáng đó, hàng loạt các văn bản pháp luật mang tầm quốc tế và quốc gia được ban hành đã ghi nhận quyền dân sự nhằm khẳng định sự tôn trọng, đề cao và bảo vệ quyền, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng xâm phạm của các chủ thể đến sự hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trong trường hợp có vi phạm xảy ra. Trên cơ sở của các văn bản pháp luật quốc tế có ghi nhận về quyền dân sự (như Hiến chương Liên hiệp quốc; Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người 1948; Công ước quốc tế về Quyền dân sự, chính trị 1966), các bản Hiến pháp của Việt Nam cũng đã có sự nội luật hóa, chuyển tải nội dung quyền dân sự với tư cách là thành viên tham gia ký kết các điều ước quốc tế này.

Qua bốn bản Hiến pháp của Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992), quyền dân sự được ghi nhận và ngày càng hoàn thiện dần cả về nội dung và hình thức thể hiện cho phù hợp với các điều kiện khách quan thay đổi và với xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài thực thi quy định của Hiến pháp nói chung, các quy định về quyền con người, quyền dân sự nói riêng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, khiến việc triển khai thi hành các quyền dân sự gặp nhiều khó khăn… Các nhà lập hiến Việt Nam trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành cũng hết sức quan tâm, chú trọng đến các quyền dân sự hiện diện trong Hiến pháp, thể hiện bằng việc: trong xây dựng Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 (Dự thảo) đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, đưa ra những sửa đổi, bổ sung hợp lý, tiến bộ. Tuy nhiên, sự sửa đổi, bổ sung đó cũng chưa hẳn đã đem lại sự thay đổi đáng kể, hoàn thiện một bước căn bản cho các quy định của Hiến pháp hiện hành về quyền dân sự. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm ra những điểm tiến bộ mà dự thảo đã đạt được và xem xét những điểm chưa có sự thay đổi đáng kể hay đã thay đổi nhưng chưa thực sự hợp lý, từ đó đưa ra một vài kiến nghị trên cơ sở đề xuất sửa đổi trực tiếp một số điều khoản trong dự thảo về quyền dân sự, góp phần hoàn thiện các quy định của Hiến pháp về nhóm quyền dân sự của cá nhân.

2. Những quy định tiến bộ của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với Hiến pháp hiện hành

Với quan điểm sửa đổi toàn diện các quy định của Hiến pháp hiện hành cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, các quy định về nhóm quyền dân sự cũng được quan tâm và có nhiều sửa đổi đáng khích lệ như sau:

Thứ nhất, có thể khẳng định rằng, Dự thảo đã có sự kế thừa những giá trị khoa học về nội dung và kỹ thuật lập hiến trong các bản Hiến pháp trước. Các quyền dân sự tiến bộ của Hiến pháp 1992 được tiếp tục kế thừa trên cơ sở có sự thay đổi về kỹ thuật lập hiến nhằm đảm bảo tính khả thi của các quyền. Hiến pháp trước đây, khi quy định nội dung các quyền dân sự thường kèm theo cụm từ “theo quy định của pháp luật” phía sau mỗi quyền, điều này có vẻ như là một “cánh cửa mở” giúp trải rộng nội hàm các quyền dân sự mà không bị bó hẹp bởi những cụm từ mang tính khái quát cao như Hiến pháp quy định. Tuy nhiên, cũng chính quy định này lại làm vô hiệu hóa việc thực hiện các quyền dân sự của công dân, của con người vì thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời làm giảm vai trò, tầm quan trọng của các quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung và dễ tạo điều kiện cho một số chủ thể quản lý quy định các quyền dân sự bằng văn bản dưới luật. Với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành, dự thảo lần này đã khắc phục phần lớn các hạn chế nêu trên bằng việc cắt bỏ, sửa đổi các cụm từ “theo quy định của pháp luật” trong một số quy định chuyển thành “theo luật định”.

 Thứ hai, Dự thảo đã có sự kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp của các nước trên thế giới như đã đưa quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung trở về đúng vị trí xứng đáng với tầm quan trọng của quyền đó là xếp vị trí thứ hai chỉ sau chương về chế độ chính trị. Không những vậy, nhiều quyền dân sự còn được “đẩy” lên trước nhóm quyền chính trị, kinh tế,… Có thể đơn cử như sau: quyền sống (Điều 21 Dự thảo); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 22); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 23),… sau đó mới đến quyền bầu cử của công dân (Điều 28), quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân (Điều 29),  quyền biểu quyết của công dân khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 30),…

Thứ ba, đã cân bằng được cấu trúc giữa các quyền trong nhóm quyền dân sự bằng cách xóa một phần nội dung của quyền hoặc nhập các quyền có nội dung tương thích lại với nhau thành một điều luật (ví dụ: nhập Điều 55 và 59 của Hiến pháp hiện hành thành Điều 38 của Dự thảo,…). Số lượng các quyền được bổ sung cho nhóm quyền dân sự ngày càng được mở rộng hơn so với trước đây tạo sự cân đối so với các nhóm quyền khác (theo quy định của Hiến pháp1992 nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội có số lượng chiếm ưu thế nhiều hơn) bằng việc xuất hiện nhiều quyền hoàn toàn mới trong dự thảo như: quyền sống (Điều 21 Dự thảo)… Điều này đã chứng tỏ, sự quan tâm, chú trọng của Nhà nước ta đối với nhóm quyền dân sự – được xem là hạt nhân của luật nhân quyền quốc tế.

Thứ tư, Dự thảo đã mở rộng chủ thể của nhóm quyền dân sự.

Nếu như, Chương V Hiến pháp 1992 xác định chủ thể quyền quá hẹp (hầu hết điều khoản về quyền đều ấn định chủ thể của quyền là “công dân”). Điều này không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế và xu thế chung của Hiến pháp trên thế giới trong đó đối với phần lớn các quyền, chủ thể quyền được xác định là “mọi người” (tức là cả công dân và người nước ngoài, người không quốc tịch đang hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia). Về hạn chế nêu trên, Dự thảo đã khắc phục khá triệt để. Hầu hết tất cả những quyền có thể áp dụng cho cả người nước ngoài đều đã được chuyển đổi đại từ nhân xưng chỉ chủ thể quyền từ “công dân” sang “mọi người” hoặc “không ai”. Sự thay đổi này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với nhóm quyền dân sự, bởi lẽ đây được xác định là nhóm quyền thiêng liêng, tự nhiên, bẩm sinh dành cho tất cả mọi người. Do đó, nó không thể bị hạn chế về chủ thể thụ hưởng quyền.

3. Những hạn chế của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với  Hiến pháp hiện hành

Dự thảo đã có những sửa đổi, bổ sung tiến bộ giúp hoàn thiện dần các quy định về quyền dân sự, tuy nhiên sự sửa đổi, bổ sung đó vẫn chưa triệt để, vẫn còn nhiều điểm hạn chế ít nhiều tác động đến việc hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân như sau:

  Thứ nhất, chưa có sự  nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ, vẫn còn nhiều điều khoản sử dụng cụm từ “theo pháp luật”, “do pháp luật quy định” hoặc “theo quy định của pháp luật”, cụ thể như sau:

   Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73): 2…Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định.

   Điều 24 (giữ nguyên Điều 68): Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

   Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69): Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

 Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 74): 2…Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nhiều quyền dân sự quy định còn thiếu tính chặt chẽ (đặc biệt đối với các quyền mới) chẳng hạn như quy định tại Điều 21 của Dự thảo về quyền sống: “Mọi người có quyền sống” lại quy định một cách quá sơ sài, mặc dù việc đưa quyền này vào Dự thảo Hiến pháp là hoàn toàn tiến bộ, đáng ghi nhận. Dẫu biết, quyền sống là quyền tự nhiên, là quyền cố hữu của mọi con người nhưng không có nghĩa là không bị giới hạn. Đối với các tội phạm nguy hiểm cần phải loại bỏ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội thì hình phạt tử hình vẫn được áp dụng. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở nội dung “Mọi người có quyền sống” như Điều 21 của Dự thảo là không phù hợp với thực tiễn chính sách hình sự ở nước ta cũng như nội dung của công ước về quyền dân sự, chính trị 1966.

Thứ ba, còn tồn tại nhiều quyền quy định chưa có tính logic (ví dụ như: Điều 23 Dự thảo“…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định”), mang tính chất “ban phát”, “đề phòng” của Nhà nước đối với công dân thường thể hiện dưới cấu trúc: “công dân có quyền…” hoặc “mọi người có quyền” (như: Điều 22 Dự thảo “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm..”; Điều 23 Dự thảo: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác…”; Điều 25 Dự thảo “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật…”).

4. Những kiến nghị cụ thể, sửa đổi, bổ sung một số quyền dân sự của Dự thảo

4.1. Quyền đi lại và cư trú

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68) Dự thảo quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”.

Thứ nhất, theo chúng tôi, nên xác định đây không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền con người. Bởi lẽ, vấn đề đi lại và cư trú là những nội hàm quan trọng không thể thiếu thuộc về bản năng di chuyển để sinh tồn của loài người. Do đó, đối tượng thụ hưởng quyền này là không thể giới hạn. Mặt khác, việc mở rộng phạm vi quyền con người hiện nay là phù hợp với xu thế hội nhập của thế giới.

Thứ hai, thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” bằng “theo quy định của luật” vì quy định như Dự thảo sẽ không đảm bảo được sự tương thích với các quy định tại Điều 15 và 20 (Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định). Mặt khác, các quy định như Dự thảo sẽ dẫn đến tình trạng, các quyền cơ bản của con người của công dân sẽ bị xâm phạm bởi chính các chủ thể có thẩm quyền khi ban hành các văn bản pháp luật tùy tiện, cản trở, hạn chế, thu hẹp quyền con người, quyền công dân.

Vì vậy, điều này cần được thể hiện như sau:

Điều 24…

Mọi người có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài theo luật định. Công dân Việt Nam có quyền từ nước ngoài về nước theo quy định của luật”.

4.2. Quyền về hôn nhân và gia đình

Điều 39 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 64) quy định:

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Theo chúng tôi, cần xác định lại chủ thể của quyền kết hôn và ly hôn bởi lẽ:

 Thứ nhất, theo quan niệm truyền thống, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống, còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Vì lẽ đó, gốc rễ để hình thành nên nền tảng của một gia đình, chính là sự kết hợp tình yêu giữa nam và nữ (đây được xem là hôn nhân dị tính –  giữa hai người khác giới tính với nhau) Tuy nhiên hiện nay, thế giới còn biết đến hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới (gọi tắt là cộng đồng LGBT). Thực tế, mọi người sinh ra, không ai được tự do lựa chọn giới tính cho chính mình vì mỗi một cá thể người là một sản phẩm của tạo hóa tạc ra. Do đó, sợi dây kết nối tình cảm của con người với nhau cũng xuất phát từ bản ngã tự nhiên ấy. Việc thừa nhận hôn nhân của những người thuộc cộng đồng LGTBT không làm xói mòn hay phá vỡ các giá trị của hôn nhân truyền thống cũng như không gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của các nhóm công dân khác mà ngược lại còn làm tăng thêm tính nhân văn, tăng thêm các giá trị thuộc về quyền con người.

Thứ hai, hiện nay, việc thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới không phải là câu chuyện đi ngược lại với quy luật của tạo hóa mà chính là con người đang sống đúng với sự ban tặng của tạo hóa. Vì vậy, dường như thế giới đã có cái nhìn thiện cảm và cởi mở hơn đối với hôn nhân của cộng đồng LGBT. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hiệp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012)[1].., xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại. Không những vậy, nhiều quốc gia hiện nay như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Thụy Điển,… đã thừa nhận hôn nhân của LGBT. Điều này cho thấy, động thái tiếp nhận tích cực của nhân loại đối với các vấn đề liên quan đến giới tính và bản dạng giới.

Thứ ba, về tính thống nhất với các quy định khác của Dự thảo Hiến pháp: Dưới góc độ này, các nội dung quy định tại Điều 39 không thống nhất với các Điều 15 và Điều 17của dự thảo. Điều 15 và 17 đã khẳng định ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm, chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy, tất cả các quyền của con người, quyền công dân phải được bảo đảm và bình đẳng, không ai bị phân biệt đối xử và chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp (không có trường hợp do xu hướng tính dục hay bản dạng giới[2]). Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 và Điều 39 đã giới hạn một số quyền của cộng đồng LGBT dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, không đảm bảo tính bình đẳng, nhân văn của Hiến pháp, pháp luật, không có tác dụng trong việc bảo vệ cộng đồng LGBT. Nếu không điều chỉnh quy định Điều 39 sẽ làm giảm tính thống nhất của Dự thảo Hiến pháp.

Do đó, theo chúng tôi, Điều này nên được sửa đổi như sau:

Thay cụm từ “nam, nữ” bằng “mọi người”; bỏ cụm từ “một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”; thêm mục 3 để phù hợp hơn với truyền thống tốt đẹp cùa gia đình Việt Nam.

 “1. Mọi người có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.

 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

3. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.” (more…)

QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG DÂN THEO QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ HIẾN PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tháng Năm 6, 2013

Trương Hồng Quang*

 1. Quy định quốc tế về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân

Quyền tham gia quản lý Nhà nước là một trong những quyền chính trị quan trọng được ghi nhận từ lâu trên thế giới. Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về quyền chính trị và hiện nay cũng chưa có định nghĩa hay giải thích chính thức trong một văn kiện quốc tế về khái niệm quyền chính trị. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực là dân sự và chính trị. Mặc dù vậy, các quyền chính trị có thể được hiểu một cách đơn giản là các quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và gián tiếp vào công việc của nhà n­ước và xã hội, bao gồm cả việc thành lập và quản lý nhà nước (Chính phủ). Với cách hiểu này, nội hàm khái niệm quyền chính trị của công dân chỉ chủ yếu đề cập tới quyền về bầu cử để lựa chọn ra người thay mặt mình nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước; quyền ứng cử, tham gia vào cuộc đua để được cử tri/người dân lựa chọn vào bộ máy công quyền thực thi quyền lực nhà nước; và do sự phát triển của dân chủ, khái niệm quyền chính trị ngày càng được mở rộng bao gồm cả việc tham gia vào cùng với nhà nước quyết định các vấn đề chính trị, trọng đại của đất nước, như ban hành các chính sách có liên quan/ảnh hưởng tới quyền của người dân; quyết định về thể chế chính trị, hình thức chính phủ, sửa đổi hiến pháp… Ngoài ra, quyền chính trị còn có thể được mở rộng và có liên quan tới một loạt các quyền về tự do dân chủ của cá nhân, công dân; vì các quyền này, liên quan tới bản chất, chính sách và mức độ dân chủ của nhà nước. Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp, tự do biểu tình, tự do tín ngưỡng và tôn giáo… So với việc thực hiện các quyền dân sự, mức độ thực hiện các quyền chính trị bao giờ cũng kèm theo những giới hạn nhất định như vì lý do an ninh quốc gia; trật tự công cộng, đạo đức chung, quyền và tự do của người khác… trong một xã hội dân chủ[1]. Tuy nhiên, nếu xem quyền dân sự là những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác (quyền sống, quyền tự do đi lại, cư trú…); thì ngược lại các quyền chính trị, để thực hiện nó, cá nhân phải tham gia cùng với những người khác, như quyền hội họp hòa bình, quyền bầu cử… Quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và xã hội đã được quy định tại Điều 25 của ICCPR. (more…)

Hoàn thiện quy định chương II dự thảo Hiến pháp nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới

Tháng Ba 16, 2013

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CỦA XÃ HỘI

Trương Hồng Quang*

 (Hội thảo của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp ngày 22/2/2013 và đăng trên Tạp chí NGhiên cứu Lập pháp số 5, tháng 3/2013)

Có thể nhận thấy việc đưa chương Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên ở vị trí Chương II là một trong những bước tiến của dự thảo Hiến pháp sửa đổi về vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định của Chương II vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới, thực tiễn khá sôi động của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Bài viết xin bàn luận và góp ý một số vấn đề cụ thể để góp phần làm cho Hiến pháp có sức sống hơn, phù hợp với yêu cầu đặt ra hiện nay.

1. Cần xem xét ghi nhận những vấn đề mới liên quan đến xu hướng tính dục và bản dạng giới

Tại Việt Nam, các khái niệm như xu hướng tính dục[1] và bản dạng giới[2] còn khá xa lạ trong đời sống và chưa xuất hiện trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Hai khái niệm này sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề như: quan niệm về gia đình, về kết hôn, quan niệm về bình đẳng giới, tác động đến việc phân biệt đối xử, ngang bằng trong xã hội. Hiện nay, Dự thảo Hiến pháp có quy định hai Điều:

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Quy định như trên thực sự vẫn còn một số điểm cần quan tâm như sau:

Thứ nhất, Điều 27 dự thảo chỉ ghi nhận bình đẳng giới giữa hai giới nam và nữ, chống phân biệt đối xử giữa nam và nữ.

Như vậy, dự thảo đã bỏ quên một số nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội là người đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT)[3]. Cộng đồng LGBT đang ngày càng hiện hữu rõ nét trong xã hội Việt Nam và trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc đặt ra yêu cầu phải có những hành động cần thiết để đảm bảo quyền công dân cho nhóm công dân này. Với quy định của dự thảo có thể đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử giữa một nam và một nữ nhưng không đảm bảo bình đẳng, chống phân biệt đối xử trong cùng một giới tính (ví dụ như nam đồng tính và nam dị tính). Thực ra, quan niệm về bình đẳng giới ở Việt Nam như hiện nay là còn khá hạn hẹp. Hiện nay trên thế giới đã và đang có xu hướng quan niệm bình đẳng giới dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới chứ không chỉ giữa hai giới tính khác nhau. Thiết nghĩ, quan niệm này sẽ đầy đủ và có tính nhân văn hơn quan niệm truyền thống. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012), xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Ngoại trưởng Hoa Kỳ),… Những động thái đó cho thấy, đã đến lúc cần có sự đổi mới quan niệm về bình đẳng giới. Để góp phần khẳng định tính đúng đắn về xu hướng tính dục thì nên lồng ghép quan điểm chống sự phân biệt về xu hướng tính dục vào trong quan niệm bình đẳng giới. Nhiệm vụ này, nên được Hiến pháp ghi nhận trước tiên, sau đó mới đến các đạo Luật cụ thể hóa.

Đối với vấn đề chống phân biệt đối xử, nhóm người LGBT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị rất nhiều trong xã hội hiện nay. Vì vậy, quy định như dự thảo hiện hành không đảm bảo cơ sở để cụ thể hóa các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ cộng đồng LGBT. (more…)

Quyền tham gia trưng cầu ý dân trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi

Tháng Ba 1, 2013

Trương Hồng Quang*

(Bài đăng Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng 2/2013)

 Tổ chức trưng cầu ý dân là một nhu cầu đang ngày càng thực sự rõ nét ở Việt Nam. Điều này được thể hiện bằng việc dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã tách Điều 53 của Hiến pháp hiện hành thành một Điều riêng về trưng cầu ý dân (Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53): “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”). Có thể nhận thấy quyền tham gia trưng cầu ý dân cùng với các quyền chính trị cơ bản khác là biểu hiện trực tiếp cao nhất nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Việc Nhà nước bảo đảm quyền tự do ý chí của công dân trong các cuộc trưng cầu ý dân là sự bổ sung cho các hình thức dân chủ đại diện, từ đó tạo điều kiện cho công dân tham gia một cách tích cực và hiệu quả nhất vào quá trình quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa quyền tham gia trưng cầu ý dân của nhân dân hiện nay vẫn còn những rào cản nhất định về mặt thể chế cũng như nhận thức của các chủ thể có liên quan[1]. (more…)

[Thanh Nien Online] Cần hiến định quyền giám sát, phản biện của dân

Tháng Hai 23, 2013

Cần hiến định quyền giám sát, phản biện của dân

23/02/2013 3:00

Nhiều ý kiến tại Hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, diễn ra ngày hôm qua do hai tạp chí thuộc Văn phòng Quốc hội và Trung ương Hội Luật gia Việt Nam đồng tổ chức, đóng góp tâm huyết xoay quanh vai trò lãnh đạo của Đảng, các quyền cơ bản của công dân cũng như cơ chế hội đồng bảo hiến.

Bàn về vai trò lãnh đạo của Đảng trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (gọi tắt là dự thảo), GS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm UB Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng: “Hiến pháp cần quy định rất rõ phương thức lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội của Đảng để tránh tình trạng mất cân đối hiện nay, đó là quyền và nghĩa vụ của nhân dân, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước được quy định rất cụ thể, trong khi đó quyền và nghĩa vụ của lực lượng lãnh đạo cả nhân dân lẫn nhà nước là Đảng lại được quy định một cách khá sơ sài”.Ông Thuyết đồng thời kiến nghị cần hiến định luôn những nguyên tắc đang dẫn dắt đời sống chính trị nước nhà cũng như những quyền lực thực tế của Đảng, trong đó có việc xác định phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bố trí nhân sự và lãnh đạo công tác của toàn bộ bộ máy nhà nước…Ông Lê Tiến, hội viên Hội Luật gia Việt Nam, phát biểu sau đó đề nghị dự thảo nên có một chương riêng về vai trò lãnh đạo của Đảng bởi “Đảng có quyền lực thì phải chịu trách nhiệm và trách nhiệm phải cụ thể”.

Cần hiến định quyền giám sát, phản biện của dân
Các đại biểu góp ý tại Hội thảo ngày 22.2 – Ảnh: Nguyệt Minh

Cần hiến định cơ chế bảo đảm quyền công dân

Bàn về nội dung quyền con người, quyền công dân trong dự thảo sửa đổi, ông Trương Hồng Quang, nghiên cứu viên của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), nhận xét dự thảo vẫn chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa đầy đủ một số quyền rất quan trọng đang thực sự là nhu cầu trong đời sống hiện nay, trong đó có quyền giám sát, phản biện xã hội. Theo ông Quang, hiện trong chương 2 của dự thảo mới chỉ quy định giám sát và phản biện xã hội tại khoản 2, điều 9 theo hướng Mặt trận phải vận động nhân dân giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Ông Quang đề nghị nên quy định nội dung giám sát và phản biện xã hội thành một chương riêng trong dự thảo, bổ sung nội dung “Công dân có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật và việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức, viên chức. Nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận và phản hồi các ý kiến, kiến nghị của công dân thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội” cũng như “việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội do luật định”.Chuyên gia pháp lý này đồng thời đề nghị trong chương 2 của Dự thảo bổ sung thêm một điều quy định: “Công dân có quyền thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tham gia công việc nhà nước ở cơ sở. Nhà nước, xã hội và cộng đồng dân cư có trách nhiệm đảm bảo, tạo điều kiện cho công dân được thực hiện các quyền làm chủ ở cơ sở” và quyền này do luật định.
TS Đặng Minh Tuấn, khoa Luật (ĐHQGHN) thì cho rằng việc quy định các quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp đặt ra nghĩa vụ của nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền đó. Do vậy, hiến pháp một mặt phải ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản, mặt khác phải thiết lập cơ chế để nhà nước thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm các quyền đó. “Thiếu các cơ chế hiệu quả và trách nhiệm, các quyền hiến định chỉ có giá trị hình thức”, TS Tuấn nhìn nhận.
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130223/can-hien-dinh-quyen-giam-sat-phan-bien-cua-dan.aspx