Archive for the ‘Luật Hiến pháp’ category

Trưng cầu ý dân và những rào cản tại Việt Nam

Tháng Một 9, 2013

Góc Nhìn Phát Triển | 08/01/2013

Trương Hồng Quang*

Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để tiến đến việc ban hành một bản Hiến pháp mới vào cuối năm 2013. Đây được xem là một cuộc sinh hoạt chính trị lớn của nước ta. Trong quá trình này, giai đoạn lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Hiến pháp được tiến hành từ ngày 2/1/2013 đến hết ngày 31/3/2013. Nhiều người sẽ băn khoăn tự hỏi rằng tại sao là “lấy ý kiến nhân dân” mà không phải là “trưng cầu ý dân”.

Thực chất đây đều là hai hình thức lấy ý kiến nhân dân về một vấn đề quan trọng nào đó và đều là những quyền chính trị quan trọng đã được hiến định (1). Tuy nhiên, hai hình thức này có sự khác nhau nhất định. Đối với trưng cầu ý dân, Nhà nước đưa ra hai lựa chọn cho nhân dân: đồng ý không đồng ý (một dự thảo Hiến pháp, việc gia nhập điều ước quốc tế, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính…) thông qua việc bỏ phiếu kín. Trên thế giới hiện nay có hai loại trưng cầu ý dân: kết quả của nhân dân là kết quả cuối cùng hoặc kết quả đó chỉ là cơ sở để Nhà nước xem xét đưa ra quyết định cuối cùng. Đối với hình thức lấy ý kiến nhân dân, Nhà nước đưa ra một vấn đề/dự thảo để nhân dân đóng góp ý kiến hoàn thiện. Theo đó, nhân dân có thể góp ý kiến với toàn bộ hoặc một phần nội dung vấn đề, không thực hiện bỏ phiếu đồng ý hay không đồng ý như hình thức trưng cầu ý dân. Các ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được Nhà nước xem xét tiếp thu hoặc không tiếp thu. Tại Việt Nam hiện nay, bản thân quyền trưng cầu ý dân đang vướng phải một số rào cản nên đến nay vẫn chưa được triển khai trong thực tiễn.  (more…)

NHỮNG NIỀM VUI NHO NHỎ

Tháng Mười 24, 2012

Dạo này có nhiều niềm vui nho nhỏ 😀

1. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật kỷ niệm 40 năm thành lập. Mình được chọn là cộng tác viên trẻ viết bài chia sẻ về Tạp chí đăng trên số tháng 10 năm 2012. Trong số này cũng đăng bài về Quyền phúc quyết. Được ưu ái quá đi :x, cụ thể xem ở Mục lục:

http://www.isl.gov.vn/content/685_Muc_luc_Tap_chi_Nha_nuoc_va_Phap_luat_so_10_294_nam_2012.aspx

2. Bài viết về trưng cầu ý dân đã đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 8/2012.

3. Một số bài viết về đồng tính đã được gửi đến 3 Tạp chí nữa (Tạp chí Nghiên cứu con người, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Tạp chí Luật học) :D; 2 bài viết về môi trường làng nghề và xã hội hóa bảo vệ môi trường đã gửi cho Tạp chí Kinh tế và Dự báo và đã được duyệt, trong đó bài về làng nghề đã đăng trên số 21, tháng 11/2012.

4. Hai cuốn sách Hỏi đáp PL về trọng tài thương mại và nuôi con nuôi đã in xong và nhận về 😀

LGBT: QUAN TÂM VẤN ĐỀ GÌ DƯỚI GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ?

Tháng Sáu 13, 2012

Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp)

Tại ViệtNam hiện nay, thuật ngữ LGBT (viết tắt của các từ Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, có nghĩa lần lượt là Đồng tính nữ, Đồng tính nam, Lưỡng tính, Chuyển giới) đã không còn quá xa lạ. Tuy nhiên, hình ảnh của cộng đồng LGBT và quan điểm, sự nhìn nhận của các tầng lớp xã hội đối với cộng đồng này dường như đang bị bóp méo dần, chưa phản ánh được những điểm tốt đẹp vốn có. Thực trạng này được thể hiện qua một số vấn đề sau đây:

Điều đầu tiên có thể đề cập là cách sử dụng từ ngữ khi nhắc đến LGBT chưa thực sự chính xác. Khá nhiều ý kiến thường xem “đồng tính” là giới tính thứ ba, cộng đồng người đồng tính là thế giới thứ ba. Thực chất, người đồng tính về mặt y học vẫn mang giới tính là nam/nữ và họ vẫn xem mình là nam/nữ nhưng chỉ yêu những người cùng giới tính với mình. Như vậy, sự khác biệt ở đây chính là xu hướng tính dục chứ đồng tính không phải là một giới tính khác. Đặc điểm này cũng là cơ sở để phân biệt người đồng tính với người chuyển giới (dù giới tính sinh học là nam/nữ nhưng lại cho rằng mình mang giới tính ngược lại). Tựu chung lại, về bản chất không hề có giới tính thứ ba nào cả, đơn giản chỉ khác nhau ở xu hướng tính dục và bản dạng giới. Bên cạnh đó, cách sử dụng từ “người bình thường” (dị tính) để phân biệt với người đồng tính, người chuyển giới,… cũng ít nhiều thể hiện sự không bình đẳng vì thực tế LGBT cũng là những người hoàn toàn tự nhiên, bình thường như những người dị tính khác. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy yếu tố bẩm sinh (quan trọng nhất) hoặc có thêm sự tác động của đời sống gia đình, xã hội,… chính là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính. Và bởi vậy, nếu nhìn nhận LGBT là những người bình thường sẽ đúng đắn hơn, nếu có khác cũng chỉ thể hiện ở chỗ họ là nhóm thiểu số trong xã hội. (more…)

Quyền phúc quyết trong Hiến pháp các nước thuộc khu vực châu Âu

Tháng Năm 25, 2012

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang

Hiến pháp của một số nước khu vực châu Âu có ghi nhận quy định quyền phúc quyết Hiến pháp như: Liên bang Nga, Thụy Sĩ, Đức, Rumani, Ireland, Italia, Pháp, Ba Lan,… Trong đó, quốc gia quy định về quyền phúc quyết Hiến pháp sớm nhất là Ireland với bản Hiến pháp ban hành năm 1937, sau đó lần lượt đến Cộng hòa liên bang Đức (Hiến pháp năm 1946), Cộng hòa Pháp (Hiến pháp năm 1958), Rumani (Hiến pháp năm 1991), Ba Lan (Hiến pháp năm 1997), Thụy Sĩ (Hiến pháp năm 1999),… Bên cạnh đó, Hiến pháp của một số quốc gia khu vực châu Âu cũng quy định phúc quyết đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia và các đạo luật cơ bản của đất nước. Điển hình cho việc mở rộng phạm vi quyền phúc quyết cho nhân dân chính là Hiến pháp của một số quốc gia sau đây:

Quốc gia đầu tiên phải kể đến chính là Cộng hòa liên bang Đức[1]. Tại nước này, phạm vi quyền phúc quyết được mở rộng gần như tối đa. Điều 146 của Hiến pháp năm 1949 quy định Hiến pháp “phải được dân biểu quyết”[2] khi ban hành Hiến pháp mới hay có những nội dung sửa đổi, bổ sung. Đến nay, Hiến pháp đã được sửa đổi tới gần 60 lần (chưa kể đến các lần thay đổi Hiến pháp khác nhau trong lịch sử quốc gia họ, gắn liền với thay đổi thể chế). Tuy nhiên tại quốc gia này bản thân Hiến pháp còn đi xa hơn, không những quy định những văn bản lập pháp phải được phúc quyết (nghĩa là không chỉ quy định chuẩn mực thước đo giới hạn nhà nước được phép làm) mà còn quy định một số vấn đề phải được dân trực tiếp quyết định. Chẳng hạn điều 29 của Hiến pháp quốc gia này quy định phân chia lại địa giới các tiểu bang phải phúc quyết tại các tiểu bang đó. Chính vì vậy, trước đây khi chủ trương mở rộng thủ đô Berlin bằng cách sát nhập thêm tiểu bang Brandenburg, được Chính phủ hai tiểu bang chuẩn bị trong vài năm, sau khi 2 Quốc hội thông qua, đưa ra phúc quyết toàn dân năm 1996 đã bị thất bại (khi tiểu bang Berlin chỉ nhỉnh quá bán còn tiểu bang Brandenburg chỉ đạt 36,57% phiếu thuận[3]). Ngay cả trường hợp Hiến pháp không quy định phúc quyết, Đức vẫn tự động áp dụng ngày một nhiều biện pháp trưng cầu dân ý đối với những văn bản luật vẫn tranh cãi giữa bên chấp thuận và bên phủ quyết trong Quốc hội. Nghĩa là một khi luật pháp tuân thủ nguyên tắc quá bán, nhưng lòng người lại khác, không phải lúc nào cũng theo lý trí, bị phân chia, thì buộc không còn con đường nào khác, phải lấy dân với tư cách chủ nhân, làm thước đo, để họ phúc quyết. Nước Đức đã tiến lên thang bậc mới trên con đường dân chủ, chuyển từ dân chủ gián tiếp sang trực tiếp, bất cứ lúc nào có thể. Bởi không ai khẳng định được mình đại diện cho dân (dân chủ gián tiếp) bằng chính người dân, tự họ định đoạt lấy (dân chủ trực tiếp). (more…)

TỔNG QUAN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT TRONG HIẾN PHÁP CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tháng Năm 25, 2012

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang


Lịch sử lập hiến hơn 200 năm của các nước trên thế giới cho thấy cách thức thông qua và ban hành hiến pháp của các nước khác nhau, nhưng xu hướng chung ngày càng dân chủ hơn, thu hút sự tham gia trực tiếp và mang tính quyết định của người dân vào sự kiện chính trị – pháp lý đặc biệt quan trọng này của đất nước[1]. Sự tham gia của người dân vào hoạt động lập hiến, lập pháp và quản lý nhà nước phụ thuộc khá nhiều vào quy trình lập hiến, mô hình Quốc hội của mỗi quốc gia. Nhìn chung, mô hình Quốc hội có thể có Quốc hội lập hiến (soạn thảo và thông qua Hiến pháp hoặc soạn thảo rồi đưa ra nhân dân thông qua); Quốc hội chỉ lập pháp, không lập hiến và Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp. Có thể thấy trong các mô hình này, mô hình Quốc hội chỉ lập pháp, không lập hiến là mô hình tiệm cận tính dân chủ, đảm bảo sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào các sự kiện quan trọng của quốc gia nhất.

Đa số các quốc gia được nghiên cứu đều cho thấy quy định về quyền “phúc quyết” là một vấn đề thường được nhắc đến trong Hiến pháp của các nước này. Nhìn chung, Hiến pháp các nước không sử dụng thuật ngữ “phúc quyết”, chỉ quy định những nội dung có ý nghĩa như thuật ngữ “phúc quyết” do Việt Nam sử dụng, đó là: Hiến pháp mới hoặc các nội dung sửa đổi Hiến pháp sau khi được cơ quan lập pháp thông qua phải được đưa ra toàn dân lấy ý kiến biểu quyết thông qua; các vấn đề quan trọng của Quốc gia hoặc các đạo luật quan trọng phải được toàn dân biểu quyết thông qua; thậm chí các vấn đề địa giới hành chính của địa phương cũng phải được “phúc quyết” (ví dụ như Hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức ở Điều 29). (more…)

Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 1992

Tháng Hai 24, 2012

Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 1992

Trương Hồng Quang

Đây là một nội dung căn bản của Hiến pháp. Bởi Hiến pháp ra đời và tồn tại bắt nguồn từ chủ quyền nhân dân. Thông qua quyền lập hiến, nhân dân thỏa thuận giao quyền, ủy quyền cho nhà nước, để cho nhà nước thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước theo ý chí của mình. Vì thế, Hiến pháp được quan niệm là một văn bản thỏa thuận chung của nhân dân trong một quốc gia, về những cách thức tổ chức quyền lực nhà nước mà theo họ là phù hợp và đem lại hạnh phúc cho mình. Thông thường trong một bản Hiến pháp của các nhà nước dân chủ và pháp quyền tổ chức quyền lực nhà nước bao gồm các nội dung cơ bản sau: (more…)

Nội dung chính của Luật trưng cầu ý dân

Tháng Hai 23, 2012

Trương Hồng Quang

Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng nội dung của đạo Luật này cần có một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, quy định rõ quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân.

Quy mô của cuộc trưng cầu ý dân được xác định dựa trên tiêu chí là phạm vi lãnh thổ. Theo đó, có cuộc trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc và có cuộc trưng cầu ý dân ở địa phương; trong trưng cầu ý dân ở địa phương lại có nhiều cấp độ khác nhau, như trưng cầu ý dân trên phạm vi một vùng bao gồm nhiều đơn vị hành chính và trưng cầu ý dân trong phạm vi một đơn vị hành chính. Ở nhiều nước, pháp luật quy định có hai loại hình trưng cầu ý dân là trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước và trưng cầu ý dân ở địa phương, cụ thể như ở Thụy Sĩ, Italia, Pháp,… vừa có trưng cầu ý dân ở phạm vi toàn liên bang vừa có trưng cầu ý dân ở địa phương[1]. Tuy nhiên, pháp luật một số nước lại chỉ quy định về loại hình trưng cầu ý dân ở địa phương mà không có trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước, điển hình là Mỹ, Cộng hòa liên bang Đức, Nhật Bản,…[2] Ở Việt Nam, sự quy định không rõ ràng của Hiến pháp đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân. Cách hiểu thứ nhất cho rằng, quy định đó hàm ý rằng chỉ có trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc. Cách hiểu thứ hai cho rằng, quy định đó cũng có thể hiểu bao gồm cả các cuộc trưng cầu ý dân liên tỉnh hoặc ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Qua nghiên cứu đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội nước ta cho thấy, các vấn đề mà cuộc sống đặt ra cần phải giải quyết thường phát sinh nhiều ở địa phương, nhất là ở cấp cơ sở. Do đó, nếu không quy định trưng cầu ý dân trong phạm vi địa phương, nhất là ở cấp cơ sở thì sẽ không giúp giải quyết, tháo gỡ các vấn đề vướng mắc trong đời sống kinh tế – xã hội của địa phương và như vậy là không đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Bởi như V.I. Lê-nin đã từng nói: “Cần phải xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của Nhà nước”[3]. (more…)

Quy định về trưng cầu dân ý trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

Tháng Hai 23, 2012

Quy định về trưng cầu dân ý trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

Trương Hồng Quang

Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, trong đó có nhiều chế định thay đổi rất nhiều so với Hiến pháp năm 1980. Cùng với các chế định khác, chế định về trưng cầu ý dân trong Hiến pháp năm 1992 cũng đã có những biến chuyển theo chiều hướng tích cực. Trong bản Hiến pháp này đã giành 3 điều quy định về vấn đề trưng cầu ý dân[1], đổi cách dùng thuật ngữ từ chỗ là trưng cầu ý kiến nhân dân trong các bản Hiến pháp năm 1980 và 1959 thành trưng cầu ý dân; xác lập quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân là một trong những quyền cơ bản của công dân; trả lại Quốc hội thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân như quy định trong Hiến pháp năm 1946; đồng thời, cũng quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức việc trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội. Như vậy, trong Hiến pháp năm 1992, các quy định về trưng cầu ý dân đã có những thay đổi tích cực so với hai bản Hiến pháp trước đó là Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1959. Về khía cạnh quyền công dân, Hiến pháp năm 1992 đã xác lập quyền biểu quyết của công dân khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân như là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân. Về khía cạnh trách nhiệm của Nhà nước, bên cạnh việc quy định rõ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân còn quy định cụ thể Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện việc trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội; quy định việc phát hành phiếu trưng cầu, thể thức bỏ phiếu và kiểm phiếu; đồng thời, cũng giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội trách nhiệm tổ chức việc bỏ phiếu, tổng hợp, công bố kết quả trưng cầu và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trong Hiến pháp năm 1946 quy định cụ thể Nhà nước buộc phải đưa ra để nhân dân phúc quyết những điều thay đổi của Hiến pháp; đồng thời, cũng quy định những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia cũng được đưa ra để nhân dân phúc quyết nếu được ít nhất hai phần ba tổng số nghị viên tán thành. Tuy nhiên, đến Hiến pháp năm 1992 thì lại không còn quy định cụ thể về những vấn đề đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân. (more…)

Một số nét cơ bản về trưng cầu ý dân

Tháng Hai 23, 2012

Một số nét cơ bản về trưng cầu ý dân

Trương Hồng Quang

1.1. Quan niệm về trưng cầu ý dân

Cội nguồn lịch sử ra đời của thuật ngữ trưng cầu ý dân (referendum) có nguồn gốc từ tiếng Latin, được hiểu là sự bỏ phiếu của cử tri nhằm mục đích thông qua các quyết định có tính chất quốc gia hay địa phương. Trong tiếng Anh, thuật ngữ trưng cầu ý dân tương đương với referendum, được hiểu là việc đưa một văn bản của cơ quan lập pháp, một đề nghị sửa đổi Hiến pháp hay một vấn đề quan trọng của quốc gia để toàn dân quyết định dưới hình thức bỏ phiếu[1]; trong tiếng Pháp, thuật ngữ trưng cầu ý dân tương đương với référendum, được hiểu là một thủ tục cho phép công dân của một quốc gia bày tỏ sự tán thành hay bác bỏ một biện pháp (giải pháp) do cơ quan Nhà nước đưa ra thông qua hình thức bỏ phiếu[2]. Đây là một thuật ngữ pháp lý tuy không phải là mới mẻ ở nước ta, nhưng do ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu giản đơn, chưa thống nhất, thậm chí rất khác nhau. Trong nhiều trường hợp đã sử dụng thuật ngữ này một cách quá dễ dãi, thiếu chuẩn xác, chẳng hạn như gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến nhân dân là trưng cầu ý dân, coi việc điều tra dư luận xã hội là trưng cầu ý dân, thậm chí một số doanh nghiệp tổ chức các cuộc thi sáng tác biểu trưng cho doanh nghiệp mình cũng gọi là trưng cầu ý dân,… Có thể nhận thấy, trong thực tiễn pháp luật nước ta có rất nhiều thuật ngữ được sử dụng liên quan đến trưng cầu ý dân:

– Trong Hiến pháp năm 1946 chỉ sử dụng thuật ngữ phúc quyết, trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 sử dụng thuật ngữ trưng cầu ý kiến nhân dân, trong Hiến pháp năm 1992 sử dụng thuật ngữ trưng cầu ý dân. Bên cạnh đó, trong một số văn bản pháp luật cũng sử dụng một số thuật ngữ khác có nội dung gần với nghĩa của các thuật ngữ này, như: lấy ý kiến nhân dân, bầu cử, điều tra xã hội học,…

– Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng phối hợp với Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 1995 thì trưng cầu được hiểu là “hỏi ý kiến của số đông người một cách có tổ chức”[3], dân ý được hiểu là “ý kiến của nhân dân về một vấn đề chính trị nào đó”[4]; trưng cầu dân ý hay trưng cầu ý dân được hiểu là “hỏi ý kiến nhân dân bằng tổ chức bỏ phiếu, để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nước[5].

– Theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2004 thì Trưng cầu dân ý (Referendum/plebiscite Référendum) được hiểu là: “Một hoạt động do Nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định hoặc bày tỏ ý kiến về những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia. Việc trưng cầu dân ý do Hiến pháp của mỗi quốc gia quy định nên tùy theo mỗi nước có thể trưng cầu dân ý để quyết định Hiến pháp hoặc một đạo luật quan trọng. Cũng có trường hợp trưng cầu chỉ có tính chất tư vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc quyền cơ quan lập pháp. Có trường hợp trưng cầu dân ý là bắt buộc và cũng có trường hợp cơ quan lập pháp xét thấy cần thiết thì mới tổ chức[6]”.

– Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 2001, Trưng cầu dân ý (Referendum/ plebiscite – Référendum) được hiểu là việc tổ chức do Nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định hoặc bày tỏ ý kiến về những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia; việc trưng cầu dân ý do Hiến pháp của mỗi quốc gia quy định nên tùy theo mỗi nước có thể trưng cầu dân ý để quyết định Hiến pháp hoặc một đạo luật quan trọng. Cũng có trường hợp trưng cầu dân ý chỉ có tính chất tư vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc quyền cơ quan lập pháp. Có trường hợp trưng cầu dân ý là bắt buộc và cũng có trường hợp cơ quan lập pháp xét thấy cần thiết thì mới tổ chức[7]. (more…)

Hội thảo xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết thi hành Hiến pháp 1992

Tháng Bảy 20, 2011

Hôm qua (19/07/2011) tôi có đi dự Hội thảo “XÂY DỰNG TIÊU CHÍ, PHƯƠNG PHÁP TỔNG KẾT VIỆC THI HÀNH HIẾN PHÁP PHỤC VỤ CHO VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG HIẾN PHÁP NĂM 1992” do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức thấy có mấy vấn đề muốn chia sẻ với mọi người:

CẦN ĐỔI MỚI MẠNH MẼ HƠN NỮA CÁC NỘI DUNG CỦA HIẾN PHÁP

          Tọa đàm diễn ra tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 07 năm 2011 do Viện Nghiên cứu lập pháp (thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội) phối hợp cùng Chương trình phát triển Liên hợp quốc tổ chức (đây là một trong chuỗi các Tọa đàm, Hội thảo được tổ chức nhằm chuẩn bị cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 trong thời gian sắp đến). Thành phần tham dự Tọa đàm gồm nhiều đại biểu, các nhà khoa học, chuyên gia đến từ các cơ quan, tổ chức khác nhau, các Viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo luật, lãnh đạo của một số Ủy ban của Quốc hội, đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội của một số địa phương (Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh,…) cùng các chuyên gia, cố vấn của UNDP. Tọa đàm do TS. Đinh Xuân Thảo (Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp) và TS. Hoàng Văn Tú (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp) làm Chủ tọa. Dưới đây là một số vấn đề được các đại biểu quan tâm trao đổi và thảo luận:

            1. Về sự cần thiết và tên của Tọa đàm

            Nhiều đại biểu băn khoăn về tên của Tọa đàm liệu có cần thiết hay không. Một số đại biểu cho rằng nên xác định luôn những vấn đề cần sửa đổi và nghiên cứu đề xuất, không nên đặt ra vấn đề tổng kết thi hành bởi từ trước đến nay các lần sửa đổi chưa có tiền lệ đặt ra vấn đề xây dựng các tiêu chí, phương pháp tổng kết thi hành Hiến pháp. Đại diện của Viện Nghiên cứu lập pháp đã có một số giải thích về vấn đề này. Nhìn chung, nội dung của việc tổng kết thi hành Hiến pháp bao gồm các nội dung: (1) đánh giá nội dung quy định của Hiến pháp, các Luật tổ chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan; (2) đánh giá các cơ chế bảo đảm thi hành Hiến pháp trong thực tế. Việc xây dựng tiêu chí, phương pháp đánh giá là cần thiết vì đây là lần sửa đổi toàn diện Hiến pháp, hứa hẹn có những đổi mới cơ bản mang tính đột phá. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng cho rằng thành phần Ủy ban sửa đổi Hiến pháp 1992 (sẽ được thành lập tại kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa XIII, khai mạc vào ngày 21/07/2011) nên có thêm thành phần các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ thực tiễn liên quan đến Hiến pháp. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động sửa đổi Hiến pháp, phát huy hơn sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhân dân vào hoạt động lập hiến của quốc gia.

            2. Về nội dung các tiêu chí, phương pháp đánh giá thi hành Hiến pháp

            Có thể nhận thấy các tham luận tại Tọa đàm hầu như chỉ tập trung vào các tiêu chí, phương pháp đánh giá nội dung, chất lượng của Hiến pháp chứ chưa có những tiêu chí, phương pháp đánh giá hiệu quả thi hành, cơ chế đảm bảo thi hành Hiến pháp trong thực tế. Bản thân các tiêu chí do các tác giả tham luận đưa ra thực sự chỉ chung chung, chưa cụ thể (dù đã có sự học hỏi kinh nghiệm quốc tế). Bên cạnh những tiêu chí như: tính bền vững, tính công khai và sự hiểu biết về Hiến pháp, bảo vệ các quyền tự do cá nhân trong Hiến pháp, trách nhiệm của Chính quyền trong Hiến pháp,…. thì PGS.TS. Bùi Xuân Đức (TW MTTQ VN) cho rằng nên bổ sung thêm 2 tiêu chí: cách thức thể hiện các chế định trong Hiến pháp (có phù hợp ko, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hay không?) và tính luật cơ bản (xây dựng các quy định chung, nền tảng như thế nào, có tạo điều kiện cho việc cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật hay không?…). Hai tiêu chí này đã nhận được sự ủng hộ của các đại biểu tham dự. Bên cạnh đó, GS.TS Lê Minh Tâm (Hội Luật gia Việt Nam) cho rằng nên xác định các tiêu chí đánh giá theo 02 nhóm: nội dung Hiến pháp và đánh giá thực thi Hiến pháp trong thực tế. Đối với phương pháp đánh giá Hiến pháp, TS. Đặng Minh Tuấn (ĐHQG Hà Nội) đưa ra một số phương pháp như: tạo ra diễn đàn tranh luận đa dạng để tham gia tổng kết, đánh giá, soạn thảo Hiến pháp; đánh giá sự thực thi Hiến pháp theo tiếp cận so sánh. Các đại biểu cũng nhìn nhận rằng việc sửa đổi Hiến pháp phải được nhìn nhận khác so với sửa đổi các đạo luật khác để xác định được tầm quan trọng của vấn đề này.

            3. Một số vấn đề đặt ra qua Tọa đàm

            Một số đại biểu băn khoăn vì sao qua hơn 65 năm Việt Nam có đến 4 bản Hiến pháp. Trong khi đó, Hiến pháp của Hoa Kỳ qua hơn 200 năm vẫn chưa thay bằng Hiến pháp mới nào khác. Thực tế, Hiến pháp của Hoa Kỳ dù chưa được thay bằng bản Hiến pháp mới nào khác nhưng đã có 27 lần sửa đổi trong thời gian qua (tính ra cứ 10 năm sửa đổi 1 lần). Ngay cả Trung Quốc trong những năm qua cũng liên tục sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội mới. Như vậy quan niệm về một bản Hiến pháp có tính ổn định cao, lâu dài cần được nhìn nhận lại. Thực chất, nên sửa đổi Hiến pháp khi xã hội, nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ đó đã thay đổi, nhất là trong tình hình mới hiện nay của mỗi quốc gia, dân tộc. Đó là điều tất yếu, cần thiết, là việc mà quốc gia nào cũng phải làm. Điều này cũng có nghĩa là thế hệ đi trước đừng bao giờ áp đặt ý chí cho thế hệ sau, nhất là đối với Hiến pháp, hãy để thế hệ sau tự quyết định điều gì là phù hợp đối với bản thân. Bên cạnh đó, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung (ĐHQG Hà Nội) cũng khuyến nghị nên xác định mục tiêu sửa đổi Hiến pháp là gì để có định hướng nhất định, tránh sa đà, mất thời gian và tốn kém.

            Tại Tọa đàm, các đại biểu cũng đề cập đến một số nội dung sửa đổi cụ thể của Hiến pháp như: cân nhắc đến quyền phúc quyết Hiến pháp (đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1946), chế định trưng cầu dân ý,… Theo đó, các đại biểu nhấn mạnh Hiến pháp nên được đưa ra lấy ý kiến toàn dân, nếu được nên để toàn dân phúc quyết để nâng cao tính dân chủ của nhân dân. Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Đình Lộc (nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp) cũng nêu ra vấn đề nên xác định lại khái niệm Hiến pháp là gì và cũng nhấn mạnh, không phải cứ Hiến pháp là tốt, là đều mang lại tác dụng tích cực cho kinh tế – xã hội (ví dụ như Hiến pháp năm 1980 là một bản Hiến pháp đã đưa nước ta vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng,…)./.

Trương Hồng Quang