Archive for the ‘Luật Hiến pháp’ category

Hiện thực hóa trưng cầu ý dân tại Việt Nam

Tháng Hai 1, 2013

HIỆN THỰC HÓA TRƯNG CẦU Ý DÂN TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

Có thể nhận thấy nhu cầu tổ chức trưng cầu ý dân ở Việt Nam đang ngày càng rõ nét. Điều này đã được thể hiện bằng việc dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã tách Điều 53 của Hiến pháp hiện hành thành một Điều riêng về trưng cầu ý dân (Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53): “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”). Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân đã tiếp tục được đưa vào chương trình chuẩn bị của Quốc hội Việt Nam khóa XIII. Luật này nếu được ban hành sẽ cụ thể hóa một trong những quyền chính trị cơ bản, quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân đã được hiến định từ Hiến pháp năm 1946. Có thể nhận thấy quyền trưng cầu ý dân cùng với các quyền chính trị cơ bản khác là biểu hiện trực tiếp cao nhất nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Việc nhà nước bảo đảm quyền tự do ý chí của công dân trong các cuộc trưng cầu ý dân là sự bổ sung cho các hình thức dân chủ đại diện, cùng với dân chủ đại diện tạo điều kiện cho công dân tham gia một cách tích cực và hiệu quả nhất vào quá trình quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. (more…)

Advertisements

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT

Tháng Một 22, 2013


Trương Hồng Quang*

Phạm Mai Diệp**

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2012)

1. Khái quát chung về quyền phúc quyết

1.1. Quan niệm về quyền phúc quyết   

Khi nghiên cứu ngôn ngữ thế giới, chúng tôi nhận thấy khái niệm phúc quyết dường như không phổ biến như khái niệm trưng cầu dân ý. Trong tiếng Latin, thuật ngữ plebiscitum (nghĩa là “cái mà dân đã nói”, thường được dịch là “phúc quyết”) được xem là gần đồng nghĩa với thuật ngữ referendum (nghĩa là “điều cần phải được thông báo”, ngôn ngữ hiện đại dịch là “trưng cầu dân ý”). Plebiscitum cũng là ý kiến của cử tri nhưng thường là các cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân về các vấn đề quan trọng hơn cả đối với đất nước như vấn đề lãnh thổ, các vấn đề quốc tế, các vấn đề liên quan tới cá nhân (trưng cầu dân ý về ứng viên duy nhất chức vụ Chủ tịch nước)[1]. Trường hợp này người Ai Cập gọi là referendum, còn người Pakistan lại gọi là plebiscitum. Thực ra trong ngôn ngữ của nhiều nước, hai thuật ngữ này không được phân biệt rõ, nhất là các ngôn ngữ ngoài châu Âu. Ngay cả trong Hiến pháp các nước cũng không sử dụng thuật ngữ “phúc quyết” mà chỉ đề cập đến “trưng cầu dân ý”. Tuy nhiên, trong Hiến pháp một số nước, trưng cầu dân ý là phương thức để thực hiện quyền biểu quyết, quyết định của nhân dân đối với một vấn đề quan trọng nào đó sau khi đã được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua. Và như vậy, Hiến pháp các nước đã công nhận quyền phúc quyết – khái niệm mà các nhà khoa học Việt Nam hay sử dụng.

Phân tích theo khía cạnh thuật ngữ, vào năm 1957 và 2000, các tác giả Đào Duy Anh và Phạm Văn Các trong hai cuốn Từ điển Hán – Việt của mình đã giải thích nghĩa của từ này. Theo đó, thuật ngữ phúc quyết là từ Hán – Việt, được ghép bởi hai từ là phúcquyết: phúc có nghĩa là “lật lại, xét kỹ”; quyết có nghĩa là “quyết định”[2]. Như vậy, có thể hiểu phúc quyết là việc đưa một vấn đề đã được quyết định (bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền) ra để biểu quyết lại.

Trong lịch sử hệ thống pháp luật của nước ta, thuật ngữ phúc quyết rất ít khi được sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này được sử dụng trong Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời điểm đó. Trong Hiến pháp năm 1946 có quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý” (Điều thứ 32); “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia…” (Điều thứ 21); việc sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo quy định: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng thuận thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (điểm c, Điều thứ 70). Trong Sắc lệnh số 63-SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định: “Nếu một phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết Ủy ban hành chính xã thì Ủy ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm” (Điều thứ 18)[3]. (more…)

Trưng cầu ý dân và những rào cản tại Việt Nam

Tháng Một 9, 2013

Góc Nhìn Phát Triển | 08/01/2013

Trương Hồng Quang*

Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để tiến đến việc ban hành một bản Hiến pháp mới vào cuối năm 2013. Đây được xem là một cuộc sinh hoạt chính trị lớn của nước ta. Trong quá trình này, giai đoạn lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Hiến pháp được tiến hành từ ngày 2/1/2013 đến hết ngày 31/3/2013. Nhiều người sẽ băn khoăn tự hỏi rằng tại sao là “lấy ý kiến nhân dân” mà không phải là “trưng cầu ý dân”.

Thực chất đây đều là hai hình thức lấy ý kiến nhân dân về một vấn đề quan trọng nào đó và đều là những quyền chính trị quan trọng đã được hiến định (1). Tuy nhiên, hai hình thức này có sự khác nhau nhất định. Đối với trưng cầu ý dân, Nhà nước đưa ra hai lựa chọn cho nhân dân: đồng ý không đồng ý (một dự thảo Hiến pháp, việc gia nhập điều ước quốc tế, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính…) thông qua việc bỏ phiếu kín. Trên thế giới hiện nay có hai loại trưng cầu ý dân: kết quả của nhân dân là kết quả cuối cùng hoặc kết quả đó chỉ là cơ sở để Nhà nước xem xét đưa ra quyết định cuối cùng. Đối với hình thức lấy ý kiến nhân dân, Nhà nước đưa ra một vấn đề/dự thảo để nhân dân đóng góp ý kiến hoàn thiện. Theo đó, nhân dân có thể góp ý kiến với toàn bộ hoặc một phần nội dung vấn đề, không thực hiện bỏ phiếu đồng ý hay không đồng ý như hình thức trưng cầu ý dân. Các ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được Nhà nước xem xét tiếp thu hoặc không tiếp thu. Tại Việt Nam hiện nay, bản thân quyền trưng cầu ý dân đang vướng phải một số rào cản nên đến nay vẫn chưa được triển khai trong thực tiễn.  (more…)

NHỮNG NIỀM VUI NHO NHỎ

Tháng Mười 24, 2012

Dạo này có nhiều niềm vui nho nhỏ 😀

1. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật kỷ niệm 40 năm thành lập. Mình được chọn là cộng tác viên trẻ viết bài chia sẻ về Tạp chí đăng trên số tháng 10 năm 2012. Trong số này cũng đăng bài về Quyền phúc quyết. Được ưu ái quá đi :x, cụ thể xem ở Mục lục:

http://www.isl.gov.vn/content/685_Muc_luc_Tap_chi_Nha_nuoc_va_Phap_luat_so_10_294_nam_2012.aspx

2. Bài viết về trưng cầu ý dân đã đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 8/2012.

3. Một số bài viết về đồng tính đã được gửi đến 3 Tạp chí nữa (Tạp chí Nghiên cứu con người, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Tạp chí Luật học) :D; 2 bài viết về môi trường làng nghề và xã hội hóa bảo vệ môi trường đã gửi cho Tạp chí Kinh tế và Dự báo và đã được duyệt, trong đó bài về làng nghề đã đăng trên số 21, tháng 11/2012.

4. Hai cuốn sách Hỏi đáp PL về trọng tài thương mại và nuôi con nuôi đã in xong và nhận về 😀

LGBT: QUAN TÂM VẤN ĐỀ GÌ DƯỚI GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ PHÁP LÝ?

Tháng Sáu 13, 2012

Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp)

Tại ViệtNam hiện nay, thuật ngữ LGBT (viết tắt của các từ Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, có nghĩa lần lượt là Đồng tính nữ, Đồng tính nam, Lưỡng tính, Chuyển giới) đã không còn quá xa lạ. Tuy nhiên, hình ảnh của cộng đồng LGBT và quan điểm, sự nhìn nhận của các tầng lớp xã hội đối với cộng đồng này dường như đang bị bóp méo dần, chưa phản ánh được những điểm tốt đẹp vốn có. Thực trạng này được thể hiện qua một số vấn đề sau đây:

Điều đầu tiên có thể đề cập là cách sử dụng từ ngữ khi nhắc đến LGBT chưa thực sự chính xác. Khá nhiều ý kiến thường xem “đồng tính” là giới tính thứ ba, cộng đồng người đồng tính là thế giới thứ ba. Thực chất, người đồng tính về mặt y học vẫn mang giới tính là nam/nữ và họ vẫn xem mình là nam/nữ nhưng chỉ yêu những người cùng giới tính với mình. Như vậy, sự khác biệt ở đây chính là xu hướng tính dục chứ đồng tính không phải là một giới tính khác. Đặc điểm này cũng là cơ sở để phân biệt người đồng tính với người chuyển giới (dù giới tính sinh học là nam/nữ nhưng lại cho rằng mình mang giới tính ngược lại). Tựu chung lại, về bản chất không hề có giới tính thứ ba nào cả, đơn giản chỉ khác nhau ở xu hướng tính dục và bản dạng giới. Bên cạnh đó, cách sử dụng từ “người bình thường” (dị tính) để phân biệt với người đồng tính, người chuyển giới,… cũng ít nhiều thể hiện sự không bình đẳng vì thực tế LGBT cũng là những người hoàn toàn tự nhiên, bình thường như những người dị tính khác. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy yếu tố bẩm sinh (quan trọng nhất) hoặc có thêm sự tác động của đời sống gia đình, xã hội,… chính là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính. Và bởi vậy, nếu nhìn nhận LGBT là những người bình thường sẽ đúng đắn hơn, nếu có khác cũng chỉ thể hiện ở chỗ họ là nhóm thiểu số trong xã hội. (more…)

Quyền phúc quyết trong Hiến pháp các nước thuộc khu vực châu Âu

Tháng Năm 25, 2012

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang

Hiến pháp của một số nước khu vực châu Âu có ghi nhận quy định quyền phúc quyết Hiến pháp như: Liên bang Nga, Thụy Sĩ, Đức, Rumani, Ireland, Italia, Pháp, Ba Lan,… Trong đó, quốc gia quy định về quyền phúc quyết Hiến pháp sớm nhất là Ireland với bản Hiến pháp ban hành năm 1937, sau đó lần lượt đến Cộng hòa liên bang Đức (Hiến pháp năm 1946), Cộng hòa Pháp (Hiến pháp năm 1958), Rumani (Hiến pháp năm 1991), Ba Lan (Hiến pháp năm 1997), Thụy Sĩ (Hiến pháp năm 1999),… Bên cạnh đó, Hiến pháp của một số quốc gia khu vực châu Âu cũng quy định phúc quyết đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia và các đạo luật cơ bản của đất nước. Điển hình cho việc mở rộng phạm vi quyền phúc quyết cho nhân dân chính là Hiến pháp của một số quốc gia sau đây:

Quốc gia đầu tiên phải kể đến chính là Cộng hòa liên bang Đức[1]. Tại nước này, phạm vi quyền phúc quyết được mở rộng gần như tối đa. Điều 146 của Hiến pháp năm 1949 quy định Hiến pháp “phải được dân biểu quyết”[2] khi ban hành Hiến pháp mới hay có những nội dung sửa đổi, bổ sung. Đến nay, Hiến pháp đã được sửa đổi tới gần 60 lần (chưa kể đến các lần thay đổi Hiến pháp khác nhau trong lịch sử quốc gia họ, gắn liền với thay đổi thể chế). Tuy nhiên tại quốc gia này bản thân Hiến pháp còn đi xa hơn, không những quy định những văn bản lập pháp phải được phúc quyết (nghĩa là không chỉ quy định chuẩn mực thước đo giới hạn nhà nước được phép làm) mà còn quy định một số vấn đề phải được dân trực tiếp quyết định. Chẳng hạn điều 29 của Hiến pháp quốc gia này quy định phân chia lại địa giới các tiểu bang phải phúc quyết tại các tiểu bang đó. Chính vì vậy, trước đây khi chủ trương mở rộng thủ đô Berlin bằng cách sát nhập thêm tiểu bang Brandenburg, được Chính phủ hai tiểu bang chuẩn bị trong vài năm, sau khi 2 Quốc hội thông qua, đưa ra phúc quyết toàn dân năm 1996 đã bị thất bại (khi tiểu bang Berlin chỉ nhỉnh quá bán còn tiểu bang Brandenburg chỉ đạt 36,57% phiếu thuận[3]). Ngay cả trường hợp Hiến pháp không quy định phúc quyết, Đức vẫn tự động áp dụng ngày một nhiều biện pháp trưng cầu dân ý đối với những văn bản luật vẫn tranh cãi giữa bên chấp thuận và bên phủ quyết trong Quốc hội. Nghĩa là một khi luật pháp tuân thủ nguyên tắc quá bán, nhưng lòng người lại khác, không phải lúc nào cũng theo lý trí, bị phân chia, thì buộc không còn con đường nào khác, phải lấy dân với tư cách chủ nhân, làm thước đo, để họ phúc quyết. Nước Đức đã tiến lên thang bậc mới trên con đường dân chủ, chuyển từ dân chủ gián tiếp sang trực tiếp, bất cứ lúc nào có thể. Bởi không ai khẳng định được mình đại diện cho dân (dân chủ gián tiếp) bằng chính người dân, tự họ định đoạt lấy (dân chủ trực tiếp). (more…)

TỔNG QUAN VỀ QUYỀN PHÚC QUYẾT TRONG HIẾN PHÁP CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tháng Năm 25, 2012

Sinh viên thực hiện: Phạm Mai Diệp

Người hướng dẫn: Trương Hồng Quang


Lịch sử lập hiến hơn 200 năm của các nước trên thế giới cho thấy cách thức thông qua và ban hành hiến pháp của các nước khác nhau, nhưng xu hướng chung ngày càng dân chủ hơn, thu hút sự tham gia trực tiếp và mang tính quyết định của người dân vào sự kiện chính trị – pháp lý đặc biệt quan trọng này của đất nước[1]. Sự tham gia của người dân vào hoạt động lập hiến, lập pháp và quản lý nhà nước phụ thuộc khá nhiều vào quy trình lập hiến, mô hình Quốc hội của mỗi quốc gia. Nhìn chung, mô hình Quốc hội có thể có Quốc hội lập hiến (soạn thảo và thông qua Hiến pháp hoặc soạn thảo rồi đưa ra nhân dân thông qua); Quốc hội chỉ lập pháp, không lập hiến và Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp. Có thể thấy trong các mô hình này, mô hình Quốc hội chỉ lập pháp, không lập hiến là mô hình tiệm cận tính dân chủ, đảm bảo sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào các sự kiện quan trọng của quốc gia nhất.

Đa số các quốc gia được nghiên cứu đều cho thấy quy định về quyền “phúc quyết” là một vấn đề thường được nhắc đến trong Hiến pháp của các nước này. Nhìn chung, Hiến pháp các nước không sử dụng thuật ngữ “phúc quyết”, chỉ quy định những nội dung có ý nghĩa như thuật ngữ “phúc quyết” do Việt Nam sử dụng, đó là: Hiến pháp mới hoặc các nội dung sửa đổi Hiến pháp sau khi được cơ quan lập pháp thông qua phải được đưa ra toàn dân lấy ý kiến biểu quyết thông qua; các vấn đề quan trọng của Quốc gia hoặc các đạo luật quan trọng phải được toàn dân biểu quyết thông qua; thậm chí các vấn đề địa giới hành chính của địa phương cũng phải được “phúc quyết” (ví dụ như Hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức ở Điều 29). (more…)