Archive for the ‘Pháp luật Kinh tế’ category

QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang*

 (Tạp chí Luật học, số tháng 2/2014)

  1. Khái quát thực tiễn pháp luật đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư hiện hành

Phát triển bền vững là đòi hỏi tất yếu của các quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Hơn nữa, phát triển bền vững của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn do nhiều lý do, trong đó có sự yếu kém của công tác quản lý. Quá trình phát triển kinh tế xã hội tạo ra nhiều nguy cơ đối với phát triển bền vững và vì thế đòi hỏi Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp giảm thiểu các nguy cơ này trong nhiều hoạt động khác nhau, đặc biệt là hoạt động đầu tư thông qua các dự án cụ thể. Phát triển bền vững không phải là thuộc tính đương nhiên của các dự án đầu tư. Để có sự phát bền vững cần lồng ghép để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong từng dự án và biến chúng trở thành thành tố của mọi quá trình đầu tư. Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện việc lồng ghép này. Để thực hiện vai trò này, pháp luật cần đáp ứng được các yêu cầu nhất định như: thể hiện đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững xuyên suốt các giai đoạn của dự án đầu tư, phát huy vai trò của tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư và tôn trọng các quy luật thị trường trong quá trình can thiệp vào các dự án đầu tư.

Phát triển bền vững là phát triển dựa trên sự cân bằng: cân bằng về tự nhiên, cân bằng về mặt kinh tế và cân bằng về xã hội. Chỉ có sự phát triển cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình phát triển, tức là tạo cho tất cả cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Các dự án đầu tư có thể mang lại thành quả song cũng có thể mang lại rủi ro cho phát triển bền vững do có sự chi phối của ý chí con người, sự xuất hiện của các lợi ích xung đột[1]. Để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ dự án đầu tư, pháp luật phải đảm bảo được sự cân bằng giữa các lợi ích của chủ thể liên quan dự án đầu tư, bao gồm: lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng dân cư có liên quan đến dự án đầu tư. Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các quy định pháp luật cần bao quát đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế, an sinh và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường[2]. Pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này. Pháp luật hiện hành tuy đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững trong các dự án đầu tư song vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: (more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

Tháng Sáu 7, 2013

Trương Hồng Quang*

 1. Dẫn nhập

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ, sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN). Tuy nhiên, nhiều quốc gia ASEAN chỉ mới chú ý đến chế định trách nhiệm sản phẩm trong thời gian gần đây. Chẳng hạn như Thái Lan mới ban hành Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm không an toàn vào năm 2008. Ngay cả ở quốc gia khai sinh ra pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là Hoa Kỳ thì cuộc tranh cãi về chế định pháp luật này vẫn chưa bao giờ kém sôi động. Những quan niệm khác nhau về phạm vi trách nhiệm, về căn cứ xác định trách nhiệm có những điểm khác nhau nhất định tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và hệ thống pháp luật của từng nước mặc dù bản thân chế định này được coi như là một hiện tượng pháp lý phổ biến. Có thể nói, những tranh luận về vấn đề trách nhiệm sản phẩm chính là sự thể hiện một cách rõ rệt nhất mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế với lợi ích của công chúng, lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, dù có bất kỳ cuộc tranh luận nào xung quanh chế định pháp luật này thì vẫn có được một sự thừa nhận chung: trách nhiệm sản phẩm là một công cụ pháp lý không thể thiếu để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại. Đầu năm 2010, Toyota mở đợt thu hồi kỷ lục 8,5 triệu chiếc trên toàn cầu, Nissaan thu hồi 500.000 chiếc, Huyndai thu hồi 500.000 chiếc, GM thu hồi 1,3 triệu chiếc và Honda cũng thu hồi 500.000 chiếc. Cơn địa chấn này của thị trường ô tô còn chưa lắng xuống thì nhà sản xuất ô tô Nhật Bản lại đứng trước nguy cơ phải thông báo thu hồi 218.000 xe Tundra. Theo Cơ quan an toàn giao thông quốc gia Mỹ (NHTSA), các xe Toyota Tundra sản xuất trong hai năm 2000 và 2001 có thể bị ảnh hưởng bởi hiện tượng ăn mòn khung xe. Tiếp đó, Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải Hàn Quốc đã yêu cầu Toyota tiến hành thu hồi 13.000 xe tại nước này do nguy cơ thảm sàn chẹt vào chân ga khiến xe tăng tốc ngoài kiểm soát. Những đợt thu hồi xe như này cho thấy sự cần thiết và tác động to lớn của vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Bài viết sau đây sẽ tìm hiểu những vấn đề cơ bản của chế định này. (more…)

Pháp luật Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu

Tháng Tư 26, 2013
 Bài viết đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 4/2013. Dưới đây là phần mở đầu.

 

(Xem bản đầy đủ trong Tạp chí Luật học)

“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) không còn là vấn đề mới ở các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia… Bảo vệ quyền lợi NTD cũng đã được Liên hợp quốc ghi nhận trong Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD năm 1999; theo đó, NTD có các quyền cơ bản như quyền được thông tin, quyền được sử dụng sản phẩm an toàn, quyền được bồi thường khi bị thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra([i])… Đa số các quốc gia đều ban hành quy định để bảo vệ NTD; trong đó, quy định chi tiết các quyền lợi được bảo vệ của NTD đồng thời quy định trách nhiệm của nhà sản xuất đối với NTD sản phẩm của mình. Khi NTD bị tổn hại về sức khoẻ, tính mạng hoặc thiệt hại về tài sản do khuyết tật của sản phẩm gây ra thì họ có quyền được yêu cầu nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc người bán hàng bồi thường thiệt hại. Quyền được bồi thường cho thiệt hại là quyền cơ bản của NTD và được ghi nhận trong pháp luật bảo vệ NTD của các quốc gia trên thế giới. Tương ứng với quyền của NTD thì nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà NTD phải gánh chịu do sản phẩm của mình có khuyết tật gây ra. Hầu hết các nước phát triển đều quy định vấn đề trách nhiệm sản phẩm (TNSP) để bảo vệ quyền lợi NTD. Bài viết này sẽ tập trung tìm hiểu nội dung pháp luật của EU về vấn đề này”.


([i]). Tham khảo: Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD, Bản dịch tài liệu “The United Nations Guidelines on Consumer Protection (as expanded in 1999) của Cục quản lí cạnh tranh, Bộ công thương.

Bài Tạp chí tháng 12/2012

Tháng Một 6, 2013

Đây là hai bài cuối cùng của năm 2012:

1. Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 24, tháng 12/2012 (tác giả)

2. Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 12/2012 (tác giả).

Hỏi – đáp về Luật trọng tài thương mại năm 2010

Tháng Mười Một 22, 2012

Hỏi – đáp về Luật trọng tài

thương mại năm 2010

 

hoi-dap-ve-luat
Tác giả: ThS. Trần Thu Hòa, LG. Lương Hồng Quang

Số trang: 244 trang

Giá tiền: 35.000đ

Nhằm giúp các tổ chức, cá nhân nắm được những nội dung cơ bản của Luật trọng tài thương mại và các văn bản có liên quan, từ đó khai thác tốt hơn những ưu thế mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài mang lại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sáchHỏi – đáp về Luật trọng tài thương mại năm 2010. Cuốn sách gồm 106 câu hỏi và trả lời, cung cấp thông tin, giải thích các quy định của Luật trọng tài thương mại và các văn bản pháp luật liên quan.

Cuốn sách gồm 5 phần đề cập các vấn đề: Những vấn đề chung về trọng tài và trọng tài thương mại; Tiêu chuẩn trọng tài viên; cơ cấu, tổ chức, thành lập và hoạt động của trung tâm trọng tài Việt Nam; Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; Quy định về tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; Quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; Hiệu lực và thi hành phán quyết trọng tài.

Ngoài ra phần cuối cuốn sách còn có phần Phụ lục gồm các vấn đề: Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Biểu phí trọng tài của một số Trung tâm trọng tài ở Việt Nam và quy định về pháp luật trọng tài của một số nước trên thế giới./.

NHỮNG NIỀM VUI NHO NHỎ

Tháng Mười 24, 2012

Dạo này có nhiều niềm vui nho nhỏ 😀

1. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật kỷ niệm 40 năm thành lập. Mình được chọn là cộng tác viên trẻ viết bài chia sẻ về Tạp chí đăng trên số tháng 10 năm 2012. Trong số này cũng đăng bài về Quyền phúc quyết. Được ưu ái quá đi :x, cụ thể xem ở Mục lục:

http://www.isl.gov.vn/content/685_Muc_luc_Tap_chi_Nha_nuoc_va_Phap_luat_so_10_294_nam_2012.aspx

2. Bài viết về trưng cầu ý dân đã đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 8/2012.

3. Một số bài viết về đồng tính đã được gửi đến 3 Tạp chí nữa (Tạp chí Nghiên cứu con người, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Tạp chí Luật học) :D; 2 bài viết về môi trường làng nghề và xã hội hóa bảo vệ môi trường đã gửi cho Tạp chí Kinh tế và Dự báo và đã được duyệt, trong đó bài về làng nghề đã đăng trên số 21, tháng 11/2012.

4. Hai cuốn sách Hỏi đáp PL về trọng tài thương mại và nuôi con nuôi đã in xong và nhận về 😀

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Tháng Mười 8, 2012

Dự kiến sẽ đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo năm 2012, dưới đây là phần đầu của bài viết.


Quan niệm về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường

Việc huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thường gọi là “xã hội hóa”. Hay nói cách khác thì xã hội hóa là làm cho việc hoàn thiện có tính xã hội, vì lợi ích chung của xã hội và có sự tham gia của mọi người trong xã hội. Khác với thời bao cấp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước phải cáng đáng mọi việc, thì với nền kinh tế thị trường hiện nay ngoài vai trò của Nhà nước còn có vai trò của các nhân tố phi nhà nước, tức là vai trò của thị trường và cộng đồng dân cư. Từ đó, việc huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực môi trường được xem là xã hội hóa bảo công tác vệ môi trường (XHH BVMT). Mặc dù trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 đã đề ra chương trình mục tiêu “xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường” và chương trình này bước đầu đã được tiến hành thí điểm một số tỉnh/ thành như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về “xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường”. Có một số quan niệm về XHH BVMT như sau:

– Theo TS. Trần Thanh Lân (Tạp chí Bảo vệ môi trường số 9/2003 – Học viện Hành chính quốc gia ): Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động bảo vệ môi trường trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực của xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

– Theo GS. Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của đất nước. Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là phải biến chủ trương bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân sống trong một xã hội.

Như vậy, có thể hiểu XHH BVMT chính là việc huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Môi trường mang tính công hữu, là của chung của mọi người. Mọi người đều có quyền hưởng các phúc lợi mà trời, đất, biển, sông, núi, đa dạng sinh học, con người và các giá trị nhân văn xã hội đem lại. Nhưng quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Vì thế nếu mọi người được hưởng các phúc lợi về môi trường thì rõ ràng mọi người cũng phải có nghĩa vụ tích cực tham gia bảo vệ và cải thiện môi trường. Bảo vệ môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao nên công tác bảo vệ môi trường được xã hội hoá là một việc làm phù hợp. Khi lực lượng cộng đồng tham gia hoạt động công ích sẽ là một tiền đề để làm tăng hiệu lực quản lý Nhà nước cũng như sức mạnh của người dân. Người dân sẽ tăng lòng tự tin vào khả năng quản lý của Nhà nước và góp phần vào giải quyết khó khăn chung, không chỉ vì lợi ích chung mà còn vì lợi ích của bản thân mình….

 

 

 

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC THI PL BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ VIỆT NAM

Tháng Chín 28, 2012

Bảo vệ môi trường trong các làng nghề: Những bất cập trong thực thi pháp luật

 Trương Hồng Quang

Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 21, tháng 11/2012

 

Làng nghề Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề trong nhiều năm qua đã xuất hiện nhiều vấn đề nan giải, trong đó có nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng cần phải có biện pháp giải quyết kịp thời.

Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội. Theo thống kê ở Việt Nam có 4.575 làng nghề, trong đó có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề[1]. Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%). Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% – 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20%-40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% – 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200-250 lao động[2]. Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

Có thể nhận thấy, các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững, thể hiện cụ thể qua một số điểm như sau: (more…)

Thực tiễn áp dụng các quy định về vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Tháng Tám 2, 2012

Thực tiễn áp dụng các quy định về vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thời gian qua cũng bộc lộ một số vướng mắc, bất cập chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, pháp luật đất đai quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai cho quá nhiều cơ quan nhà nước. Luật đất đai năm 2003 quy định Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân các cấp, UBND các cấp đều thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Hơn nữa, Chính phủ và UBND các cấp vừa thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai vừa thực hiện quyền quản lý đất đai. Việc quy định cho các cơ quan công quyền này có nhiều quyền năng trong thực hiện quyền định đoạt đất đai song dường như vẫn còn thiếu cơ chế kiểm soát, giám sát hữu hiệu đã làm nảy sinh một số bất cập trong thực tế áp dụng; cụ thể:

Một là, việc phân cấp cho UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã dẫn đến tình trạng một số địa phương lạm dụng quyền hạn này thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác một cách ồ ạt. Phong trào xây dựng sân golf, xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới v.v mà chưa tính toán thấu đáo đến khía cạnh hiệu quả kinh tế, xã hội thời gian vừa qua là kết quả của sự lạm dụng quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của chính quyền nhiều địa phương. Hậu quả là quỹ đất nông nghiệp bị giảm sút đáng kể đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia; hàng ngàn hộ gia đình nông dân bị mất đất sản xuất rơi vào hoàn cảnh không có “công ăn, việc làm” và để lại nhiều hệ lụy tiêu cực về kinh tế – xã hội.

Hai là, việc quy định thẩm quyền thu hồi đất quá lớn cho chính quyền các địa phương mà thiếu cơ chế pháp lý kiểm soát, xử lý hiệu quả đã dẫn đến tình trạng nhiều địa phương lạm dụng quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong việc thu hồi đất, cưỡng chế, giải phóng mặt bằng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm cục bộ mà điển hình là vụ việc cưỡng chế thu hồi đất nuôi trồng thủy sản của UBND huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) là một trong những ví dụ điển hình. Hơn nữa, Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thu hồi đất không chỉ cho mục đích quốc phòng – an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà còn cho cả mục đích phát triển kinh tế. Điều này dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ quan chức chính quyền địa phương cấu kết với các chủ đầu tư, các chủ doanh nghiệp trong việc cưỡng chế thu hồi đất của người dân không theo đúng quy định của pháp luật về thu hồi đất. (more…)

Cơ sở của vai trò của Nhà nước đối với đảm bảo quyền, nghĩa vụ người sử dụng đất

Tháng Tám 2, 2012

Tìm hiểu về vai trò của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất cho thấy rằng vai trò này được xác lập dựa trên những cơ sở chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất chính trị của Nhà nước ta. Kể từ khi giành được độc lập (ngày 02/09/1945) đến nay, trong các bản hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992) của nước ta đều ghi nhận và long trọng tuyên bố “Ở Việt Nam, mọi quyền lực thuộc về nhân dân”. Điều này có nghĩa là nhân dân là người làm chủ đất nước. Họ bầu ra nhà nước để thay mặt mình quản lý mọi hoạt động của đời sống xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nhà nước CHXHCN Việt Nam) do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động. Do đó, Nhà nước CHXHCN Việt Nam không chỉ có vai trò mà còn có bổn phận và trách nhiệm trong việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói riêng được Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 2003 ghi nhận.

Thứ hai, như phần trên đã đề cập, ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, toàn dân với tư cách là một cộng đồng xã hội không thể là chủ thể của quan hệ pháp luật về sở hữu đất đai. Hay nói cách khác, toàn dân không thể tự mình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) mà phải có một chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi thay mặt chủ sở hữu toàn dân thực hiện các quyền năng này đối với đất. Chủ thể đó là Nhà nước (Chủ thể công). Với chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước ta (Nhà nước CHXHCN Việt Nam) có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Thứ ba, Nhà nước là một thành tố trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, khác với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, Nhà nước là một tổ chức chính trị – quyền lực có chức năng quản lý xã hội, có quyền ban hành và thực thi pháp luật; đồng thời có bộ máy các cơ quan nhà nước, đội ngũ công chức, viên chức nhà nước và có các nguồn lực vật chất cần thiết để thực hiện vai trò quản lý xã hội … Vì vậy, Nhà nước có ưu thế trong việc bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói riêng.