Archive for the ‘Pháp luật Kinh tế’ category

QUAN ĐIỂM VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Tháng Ba 19, 2014

Trương Hồng Quang*

 (Tạp chí Luật học, số tháng 2/2014)

  1. Khái quát thực tiễn pháp luật đảm bảo yêu cầu lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư hiện hành

Phát triển bền vững là đòi hỏi tất yếu của các quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Hơn nữa, phát triển bền vững của Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn do nhiều lý do, trong đó có sự yếu kém của công tác quản lý. Quá trình phát triển kinh tế xã hội tạo ra nhiều nguy cơ đối với phát triển bền vững và vì thế đòi hỏi Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp giảm thiểu các nguy cơ này trong nhiều hoạt động khác nhau, đặc biệt là hoạt động đầu tư thông qua các dự án cụ thể. Phát triển bền vững không phải là thuộc tính đương nhiên của các dự án đầu tư. Để có sự phát bền vững cần lồng ghép để đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững trong từng dự án và biến chúng trở thành thành tố của mọi quá trình đầu tư. Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện việc lồng ghép này. Để thực hiện vai trò này, pháp luật cần đáp ứng được các yêu cầu nhất định như: thể hiện đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững xuyên suốt các giai đoạn của dự án đầu tư, phát huy vai trò của tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình đầu tư và tôn trọng các quy luật thị trường trong quá trình can thiệp vào các dự án đầu tư.

Phát triển bền vững là phát triển dựa trên sự cân bằng: cân bằng về tự nhiên, cân bằng về mặt kinh tế và cân bằng về xã hội. Chỉ có sự phát triển cân bằng mới đảm bảo lợi ích cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình phát triển, tức là tạo cho tất cả cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Các dự án đầu tư có thể mang lại thành quả song cũng có thể mang lại rủi ro cho phát triển bền vững do có sự chi phối của ý chí con người, sự xuất hiện của các lợi ích xung đột[1]. Để đảm bảo phát triển bền vững ở cấp độ dự án đầu tư, pháp luật phải đảm bảo được sự cân bằng giữa các lợi ích của chủ thể liên quan dự án đầu tư, bao gồm: lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng dân cư có liên quan đến dự án đầu tư. Để đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, các quy định pháp luật cần bao quát đầy đủ các khía cạnh của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế, an sinh và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường[2]. Pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cũng phải đáp ứng được ba khía cạnh này. Pháp luật hiện hành tuy đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững trong các dự án đầu tư song vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: (more…)

Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

Tháng Sáu 7, 2013

Trương Hồng Quang*

 1. Dẫn nhập

Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ, sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN). Tuy nhiên, nhiều quốc gia ASEAN chỉ mới chú ý đến chế định trách nhiệm sản phẩm trong thời gian gần đây. Chẳng hạn như Thái Lan mới ban hành Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm không an toàn vào năm 2008. Ngay cả ở quốc gia khai sinh ra pháp luật về trách nhiệm sản phẩm là Hoa Kỳ thì cuộc tranh cãi về chế định pháp luật này vẫn chưa bao giờ kém sôi động. Những quan niệm khác nhau về phạm vi trách nhiệm, về căn cứ xác định trách nhiệm có những điểm khác nhau nhất định tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và hệ thống pháp luật của từng nước mặc dù bản thân chế định này được coi như là một hiện tượng pháp lý phổ biến. Có thể nói, những tranh luận về vấn đề trách nhiệm sản phẩm chính là sự thể hiện một cách rõ rệt nhất mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế với lợi ích của công chúng, lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, dù có bất kỳ cuộc tranh luận nào xung quanh chế định pháp luật này thì vẫn có được một sự thừa nhận chung: trách nhiệm sản phẩm là một công cụ pháp lý không thể thiếu để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại. Đầu năm 2010, Toyota mở đợt thu hồi kỷ lục 8,5 triệu chiếc trên toàn cầu, Nissaan thu hồi 500.000 chiếc, Huyndai thu hồi 500.000 chiếc, GM thu hồi 1,3 triệu chiếc và Honda cũng thu hồi 500.000 chiếc. Cơn địa chấn này của thị trường ô tô còn chưa lắng xuống thì nhà sản xuất ô tô Nhật Bản lại đứng trước nguy cơ phải thông báo thu hồi 218.000 xe Tundra. Theo Cơ quan an toàn giao thông quốc gia Mỹ (NHTSA), các xe Toyota Tundra sản xuất trong hai năm 2000 và 2001 có thể bị ảnh hưởng bởi hiện tượng ăn mòn khung xe. Tiếp đó, Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải Hàn Quốc đã yêu cầu Toyota tiến hành thu hồi 13.000 xe tại nước này do nguy cơ thảm sàn chẹt vào chân ga khiến xe tăng tốc ngoài kiểm soát. Những đợt thu hồi xe như này cho thấy sự cần thiết và tác động to lớn của vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Bài viết sau đây sẽ tìm hiểu những vấn đề cơ bản của chế định này. (more…)

Pháp luật Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu

Tháng Tư 26, 2013
 Bài viết đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 4/2013. Dưới đây là phần mở đầu.

 

(Xem bản đầy đủ trong Tạp chí Luật học)

“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) không còn là vấn đề mới ở các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia… Bảo vệ quyền lợi NTD cũng đã được Liên hợp quốc ghi nhận trong Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD năm 1999; theo đó, NTD có các quyền cơ bản như quyền được thông tin, quyền được sử dụng sản phẩm an toàn, quyền được bồi thường khi bị thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra([i])… Đa số các quốc gia đều ban hành quy định để bảo vệ NTD; trong đó, quy định chi tiết các quyền lợi được bảo vệ của NTD đồng thời quy định trách nhiệm của nhà sản xuất đối với NTD sản phẩm của mình. Khi NTD bị tổn hại về sức khoẻ, tính mạng hoặc thiệt hại về tài sản do khuyết tật của sản phẩm gây ra thì họ có quyền được yêu cầu nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc người bán hàng bồi thường thiệt hại. Quyền được bồi thường cho thiệt hại là quyền cơ bản của NTD và được ghi nhận trong pháp luật bảo vệ NTD của các quốc gia trên thế giới. Tương ứng với quyền của NTD thì nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà NTD phải gánh chịu do sản phẩm của mình có khuyết tật gây ra. Hầu hết các nước phát triển đều quy định vấn đề trách nhiệm sản phẩm (TNSP) để bảo vệ quyền lợi NTD. Bài viết này sẽ tập trung tìm hiểu nội dung pháp luật của EU về vấn đề này”.


([i]). Tham khảo: Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD, Bản dịch tài liệu “The United Nations Guidelines on Consumer Protection (as expanded in 1999) của Cục quản lí cạnh tranh, Bộ công thương.

Bài Tạp chí tháng 12/2012

Tháng Một 6, 2013

Đây là hai bài cuối cùng của năm 2012:

1. Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 24, tháng 12/2012 (tác giả)

2. Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 12/2012 (tác giả).

Hỏi – đáp về Luật trọng tài thương mại năm 2010

Tháng Mười Một 22, 2012

Hỏi – đáp về Luật trọng tài

thương mại năm 2010

 

hoi-dap-ve-luat
Tác giả: ThS. Trần Thu Hòa, LG. Lương Hồng Quang

Số trang: 244 trang

Giá tiền: 35.000đ

Nhằm giúp các tổ chức, cá nhân nắm được những nội dung cơ bản của Luật trọng tài thương mại và các văn bản có liên quan, từ đó khai thác tốt hơn những ưu thế mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài mang lại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sáchHỏi – đáp về Luật trọng tài thương mại năm 2010. Cuốn sách gồm 106 câu hỏi và trả lời, cung cấp thông tin, giải thích các quy định của Luật trọng tài thương mại và các văn bản pháp luật liên quan.

Cuốn sách gồm 5 phần đề cập các vấn đề: Những vấn đề chung về trọng tài và trọng tài thương mại; Tiêu chuẩn trọng tài viên; cơ cấu, tổ chức, thành lập và hoạt động của trung tâm trọng tài Việt Nam; Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; Quy định về tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; Quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; Hiệu lực và thi hành phán quyết trọng tài.

Ngoài ra phần cuối cuốn sách còn có phần Phụ lục gồm các vấn đề: Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Biểu phí trọng tài của một số Trung tâm trọng tài ở Việt Nam và quy định về pháp luật trọng tài của một số nước trên thế giới./.

NHỮNG NIỀM VUI NHO NHỎ

Tháng Mười 24, 2012

Dạo này có nhiều niềm vui nho nhỏ 😀

1. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật kỷ niệm 40 năm thành lập. Mình được chọn là cộng tác viên trẻ viết bài chia sẻ về Tạp chí đăng trên số tháng 10 năm 2012. Trong số này cũng đăng bài về Quyền phúc quyết. Được ưu ái quá đi :x, cụ thể xem ở Mục lục:

http://www.isl.gov.vn/content/685_Muc_luc_Tap_chi_Nha_nuoc_va_Phap_luat_so_10_294_nam_2012.aspx

2. Bài viết về trưng cầu ý dân đã đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 8/2012.

3. Một số bài viết về đồng tính đã được gửi đến 3 Tạp chí nữa (Tạp chí Nghiên cứu con người, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Tạp chí Luật học) :D; 2 bài viết về môi trường làng nghề và xã hội hóa bảo vệ môi trường đã gửi cho Tạp chí Kinh tế và Dự báo và đã được duyệt, trong đó bài về làng nghề đã đăng trên số 21, tháng 11/2012.

4. Hai cuốn sách Hỏi đáp PL về trọng tài thương mại và nuôi con nuôi đã in xong và nhận về 😀

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Tháng Mười 8, 2012

Dự kiến sẽ đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo năm 2012, dưới đây là phần đầu của bài viết.


Quan niệm về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường

Việc huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thường gọi là “xã hội hóa”. Hay nói cách khác thì xã hội hóa là làm cho việc hoàn thiện có tính xã hội, vì lợi ích chung của xã hội và có sự tham gia của mọi người trong xã hội. Khác với thời bao cấp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước phải cáng đáng mọi việc, thì với nền kinh tế thị trường hiện nay ngoài vai trò của Nhà nước còn có vai trò của các nhân tố phi nhà nước, tức là vai trò của thị trường và cộng đồng dân cư. Từ đó, việc huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực môi trường được xem là xã hội hóa bảo công tác vệ môi trường (XHH BVMT). Mặc dù trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 đã đề ra chương trình mục tiêu “xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường” và chương trình này bước đầu đã được tiến hành thí điểm một số tỉnh/ thành như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về “xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường”. Có một số quan niệm về XHH BVMT như sau:

– Theo TS. Trần Thanh Lân (Tạp chí Bảo vệ môi trường số 9/2003 – Học viện Hành chính quốc gia ): Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động bảo vệ môi trường trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực của xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

– Theo GS. Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của đất nước. Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là phải biến chủ trương bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân sống trong một xã hội.

Như vậy, có thể hiểu XHH BVMT chính là việc huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Môi trường mang tính công hữu, là của chung của mọi người. Mọi người đều có quyền hưởng các phúc lợi mà trời, đất, biển, sông, núi, đa dạng sinh học, con người và các giá trị nhân văn xã hội đem lại. Nhưng quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Vì thế nếu mọi người được hưởng các phúc lợi về môi trường thì rõ ràng mọi người cũng phải có nghĩa vụ tích cực tham gia bảo vệ và cải thiện môi trường. Bảo vệ môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao nên công tác bảo vệ môi trường được xã hội hoá là một việc làm phù hợp. Khi lực lượng cộng đồng tham gia hoạt động công ích sẽ là một tiền đề để làm tăng hiệu lực quản lý Nhà nước cũng như sức mạnh của người dân. Người dân sẽ tăng lòng tự tin vào khả năng quản lý của Nhà nước và góp phần vào giải quyết khó khăn chung, không chỉ vì lợi ích chung mà còn vì lợi ích của bản thân mình….