Archive for the ‘Pháp luật Kinh tế’ category

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC THI PL BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ VIỆT NAM

Tháng Chín 28, 2012

Bảo vệ môi trường trong các làng nghề: Những bất cập trong thực thi pháp luật

 Trương Hồng Quang

Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 21, tháng 11/2012

 

Làng nghề Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề trong nhiều năm qua đã xuất hiện nhiều vấn đề nan giải, trong đó có nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng cần phải có biện pháp giải quyết kịp thời.

Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội. Theo thống kê ở Việt Nam có 4.575 làng nghề, trong đó có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề[1]. Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%). Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% – 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20%-40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% – 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200-250 lao động[2]. Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

Có thể nhận thấy, các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững, thể hiện cụ thể qua một số điểm như sau: (more…)

Advertisements

Thực tiễn áp dụng các quy định về vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Tháng Tám 2, 2012

Thực tiễn áp dụng các quy định về vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thời gian qua cũng bộc lộ một số vướng mắc, bất cập chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, pháp luật đất đai quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai cho quá nhiều cơ quan nhà nước. Luật đất đai năm 2003 quy định Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân các cấp, UBND các cấp đều thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Hơn nữa, Chính phủ và UBND các cấp vừa thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai vừa thực hiện quyền quản lý đất đai. Việc quy định cho các cơ quan công quyền này có nhiều quyền năng trong thực hiện quyền định đoạt đất đai song dường như vẫn còn thiếu cơ chế kiểm soát, giám sát hữu hiệu đã làm nảy sinh một số bất cập trong thực tế áp dụng; cụ thể:

Một là, việc phân cấp cho UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã dẫn đến tình trạng một số địa phương lạm dụng quyền hạn này thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác một cách ồ ạt. Phong trào xây dựng sân golf, xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới v.v mà chưa tính toán thấu đáo đến khía cạnh hiệu quả kinh tế, xã hội thời gian vừa qua là kết quả của sự lạm dụng quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của chính quyền nhiều địa phương. Hậu quả là quỹ đất nông nghiệp bị giảm sút đáng kể đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia; hàng ngàn hộ gia đình nông dân bị mất đất sản xuất rơi vào hoàn cảnh không có “công ăn, việc làm” và để lại nhiều hệ lụy tiêu cực về kinh tế – xã hội.

Hai là, việc quy định thẩm quyền thu hồi đất quá lớn cho chính quyền các địa phương mà thiếu cơ chế pháp lý kiểm soát, xử lý hiệu quả đã dẫn đến tình trạng nhiều địa phương lạm dụng quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong việc thu hồi đất, cưỡng chế, giải phóng mặt bằng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm cục bộ mà điển hình là vụ việc cưỡng chế thu hồi đất nuôi trồng thủy sản của UBND huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) là một trong những ví dụ điển hình. Hơn nữa, Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thu hồi đất không chỉ cho mục đích quốc phòng – an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà còn cho cả mục đích phát triển kinh tế. Điều này dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ quan chức chính quyền địa phương cấu kết với các chủ đầu tư, các chủ doanh nghiệp trong việc cưỡng chế thu hồi đất của người dân không theo đúng quy định của pháp luật về thu hồi đất. (more…)

Cơ sở của vai trò của Nhà nước đối với đảm bảo quyền, nghĩa vụ người sử dụng đất

Tháng Tám 2, 2012

Tìm hiểu về vai trò của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất cho thấy rằng vai trò này được xác lập dựa trên những cơ sở chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất chính trị của Nhà nước ta. Kể từ khi giành được độc lập (ngày 02/09/1945) đến nay, trong các bản hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992) của nước ta đều ghi nhận và long trọng tuyên bố “Ở Việt Nam, mọi quyền lực thuộc về nhân dân”. Điều này có nghĩa là nhân dân là người làm chủ đất nước. Họ bầu ra nhà nước để thay mặt mình quản lý mọi hoạt động của đời sống xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nhà nước CHXHCN Việt Nam) do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động. Do đó, Nhà nước CHXHCN Việt Nam không chỉ có vai trò mà còn có bổn phận và trách nhiệm trong việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói riêng được Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 2003 ghi nhận.

Thứ hai, như phần trên đã đề cập, ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, toàn dân với tư cách là một cộng đồng xã hội không thể là chủ thể của quan hệ pháp luật về sở hữu đất đai. Hay nói cách khác, toàn dân không thể tự mình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với đất đai (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) mà phải có một chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi thay mặt chủ sở hữu toàn dân thực hiện các quyền năng này đối với đất. Chủ thể đó là Nhà nước (Chủ thể công). Với chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước ta (Nhà nước CHXHCN Việt Nam) có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Thứ ba, Nhà nước là một thành tố trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, khác với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, Nhà nước là một tổ chức chính trị – quyền lực có chức năng quản lý xã hội, có quyền ban hành và thực thi pháp luật; đồng thời có bộ máy các cơ quan nhà nước, đội ngũ công chức, viên chức nhà nước và có các nguồn lực vật chất cần thiết để thực hiện vai trò quản lý xã hội … Vì vậy, Nhà nước có ưu thế trong việc bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói riêng.

 

 

 

ĐTM trong xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật

Tháng Bảy 9, 2012

VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trương Hồng Quang*

 (Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 15 (527), kỳ 1 tháng 8/2012)

Trong những năm gần đây, Nhà nước ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường, phát triển bền vững và cải tiến phương thức quản lý phát triển sao cho hài hòa với lợi ích môi trường. Cùng với sự quan tâm đó là sự ra đời của các quy phạm pháp luật mới nhằm giải quyết mối xung đột giữa nhu cầu bảo vệ môi trường với sự phát triển. Ðánh giá tác động môi trường là một ví dụ quan trọng về một trong những nỗ lực đó. Đánh giá tác động pháp luật nói chung và đánh giá tác động môi trường nói riêng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một trong những nội dung mới được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008). Đây là một cuộc cải cách pháp lý quan trọng trong lĩnh vực lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố nền pháp trị, nâng cao vai trò hoạch định chính sách của Quốc hội và thực hiện chính sách của các Bộ, ngành cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và công dân, đáp ứng yêu cầu mang tính khách quan, nhằm khắc phục những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn soạn thảo, ban hành VBQPPL. Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng và nhiều biến động trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy, nhiều dự án phát triển chỉ mới đạt được được mục tiêu về kinh tế mà chưa đi đôi với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên như định hướng đã đề ra. Vì vậy, yêu cầu đánh giá tác động môi trường không chỉ dừng lại ở hoạt động tuân theo quy định của pháp luật mà còn đòi hỏi đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng VBQPPL. Bài viết sau đây sẽ làm rõ tầm quan trọng của việc áp dụng tốt quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường vào hoạt động xây dựng VBQPPL.

1. Thế nào là đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng VBQPPL?

Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều quan điểm về đánh giá tác động môi trường nhưng hầu hết quan điểm đều cho rằng cần phải “phát hiện và dự tính những tác động môi trường cũng như đối với sức khỏe và sự thịnh vượng của con người, của các đề xuất, các chính sách, các chương trình dự án, quy trình hoạt động và cần phải chuyển giao và công bố những thông tin về tác động đó”[1]. Quan điểm khác của Cục môi trường Anh (định nghĩa hẹp) lại cho rằng “đánh giá tác động môi trường chỉ là một kỹ thuật và một quy trình giúp các chuyên gia phát triển, tập hợp những thông tin về ảnh hưởng đối với môi trường của một dự án và thông tin này sẽ được nhà quản lý quy hoạch sử dụng để đưa ra những quyết định về phương hướng”[2]. (more…)

PHÁP LUẬT ÁP DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ, THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

Tháng Mười 5, 2011

Trong kinh tế thị trường, hoạt động định giá và thẩm định giá tài sản là những hoạt động khách quan, quan trọng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ tài sản, của tổ chức, cá nhân kinh doanh, của người tiêu dùng, bảo đảm trật tự xã hội và lợi ích công cộng, các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động định giá, thẩm định giá luôn được pháp luật điều chỉnh. Để trang bị những kiến thức cơ bản nhất về pháp luật áp dụng trong hoạt động định giá, thẩm định giá tài sản, chúng tôi viết chuyên đề này nhằm cung cấp cho người học những vấn đề lý luận pháp lý cũng như các quy định hiện hành về tài sản, các quyền tài sản; những nội dung cơ bản về pháp luật giá, thẩm định giá; pháp luật về doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp thẩm định giá nói riêng, thẩm định viên về giá. Chuyên đề này còn cung cấp cho người học những kiến thức pháp lý cơ bản về tài sản định giá, thẩm định giá; trình tự, thủ tục của hoạt động thẩm định giá, định giá và một số nội dung của pháp luật thuế. (more…)

ĐOÀN TẬP HUẤN, KHẢO SÁT NHIỆM VỤ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

Tháng Tám 8, 2011

 Thực hiện các Nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2011, trong thời gian từ từ 02-05/08/2011, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp đã tổ chức hai đoàn công tác tại tỉnh Đồng Nai với hai nhiệm vụ: “Tập huấn tăng cường năng lực tham gia xây dựng pháp luật và kiểm tra VB QPPL về bảo vệ môi trường của cán bộ ngành tư pháp” và “Lồng ghép các yêu cầu xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tư pháp đảm bảo phát triển bền vững trong các chiến lược, quy hoạch”. Các đoàn công tác do hai đồng chí: GS,TS Lê Hồng Hạnh (Viện trưởng), TS. Võ Đình Toàn (Phó Viện trưởng) làm Trưởng đoàn cùng sự tham gia của các nghiên cứu viên của Viện Khoa học Pháp lý. (more…)

Thực thi pháp luật Bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp

Tháng Bảy 27, 2011

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 và tiếp theo là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các doanh nghiệp, các khu công nghiệp phải thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Gần đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011; trong đó đã xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế -xã hội nói chung và lĩnh vực môi trường nói riêng. Chiến lược cũng đã xác định mục tiêu cụ thể về môi trường: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải rắn nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn[1]. (more…)