Archive for the ‘Thông tin Khoa học Pháp lý’ category

Số chuyên đề LGBT năm 2013

Tháng Mười Một 1, 2013

Tác giả: Trương Hồng Quang

Đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh là LGBT*) là vấn đề không còn mới mẻ trên thế giới hiện nay. Đây được xem là vấn đề có tính lịch sử, chính trị, pháp lý, xã hội… rất cao. Bản thân người LGBT là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (thiểu số về tình dục) của bất cứ xã hội nào, thường chỉ chiếm từ 3-5% dân số của mỗi quốc gia. Ngay cả các nhà hoạch định chính sách đôi khi chưa thực sự hiểu hết về cộng đồng này. Bên cạnh đó, các yếu tố chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, định kiến, sự kỳ thị… cũng tác động rất lớn đến đời sống cũng như quá trình phát triển của người LGBT. Trong những bối cảnh như vậy, quá trình đấu tranh quyền của người LGBT và nâng cao nhận thức của xã hội về cộng đồng này rất khó khăn và lâu dài. Hiện nay, trên thế giới còn có nhiều nước hình sự hóa quan hệ đồng tính, bỏ tù người đồng tính, cấm tuyên truyền về người đồng tính, không công nhận quan hệ sống chung của người đồng tính, không cho nhận con nuôi chung, các cặp đôi đồng tính nếu được sống chung phải nộp thuế cao hơn bình thường, không chấp nhận người chuyển giới,… Ngay cả nhiều nước được xem là dân chủ, tiến bộ cũng vẫn còn tồn tại nhiều sự kỳ thị, định kiến, bất công đối với người LGBT. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton từng phát biểu rằng quyền của người LGBT là một trong những những thách thức về nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta**.

Tại Việt Nam, vấn đề LGBT trong những năm gần đây đang dần nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và cơ quan hoạch định chính sách. Tuy nhiên, nhận thức về cộng đồng người LGBT của xã hội Việt Nam còn khá lạc hậu và đang tồn tại nhiều sự kỳ thị rất rõ nét. Pháp luật hiện hành cũng chưa thực sự tiếp cận đầy đủ với các giá trị xã hội của người LGBT. Hiện nay Việt Nam cũng đang trong quá trình sửa đổi/ban hành một số các đạo luật có liên quan đến quyền của người LGBT (Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hộ tịch…) nhưng mức độ tiếp cận với các vấn đề về LGBT còn nhiều hạn chế khác nhau. (more…)

Advertisements

Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành

Tháng Sáu 25, 2013
Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành
Bài viết này lấy nhiều thông tin trong bài viết của mình nhưng chú thích chán quá 🙂

1. Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển của các thế hệ quyền con người cho thấy, quyền dân sự (cùng với quyền chính trị) là thế hệ quyền xuất hiện đầu tiên gắn liền với cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây. Sự xuất hiện mang tính khởi đầu này tuy không là yếu tố hoàn toàn nhưng cũng có thể được coi là một căn cứ để đánh giá vai trò, tầm quan trọng của nhóm quyền dân sự so với các nhóm quyền khác. Bởi, chỉ khi nó được phần đông cộng đồng quan tâm trước tiên và trên hết thì quyền dân sự mới được các cá nhân đòi hỏi, yêu cầu hưởng thụ sớm đến như vậy. Mặc dầu quyền dân sự – một trong những quyền con người nói chung – là quyền tự nhiên do tạo hóa ban tặng, mặc nhiên được thừa nhận mà không cần sự ban phát từ chủ thể mang quyền lực nhà nước. Đặc trưng của nhóm quyền dân sự mang tính thụ động nghĩa là không cần có sự can thiệp từ phía nhà nước, cá nhân cũng có thể tự mình thực hiện. Điều này cũng chính là yêu cầu để đảm bảo thực thi quyền dân sự – hạn chế đến mức thấp nhất khả năng can thiệp của cơ quan công quyền góp phần làm tăng tính hiệu quả trong việc hưởng thụ quyền dân sự. Tuy nhiên, quyền dân sự của cá nhân sẽ có nguy cơ và thực tế đang bị xâm hại bởi vô số các chủ thể mà nhiều nhất là chủ thể mang quyền lực nhà nước. Bởi vậy, đòi hỏi phải có sự ghi nhận, bảo vệ quyền dân sự bằng các quy định của pháp luật.

Với sự ảnh hưởng của nhóm quyền dân sự đến đời sống cộng đồng và nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi chính đáng đó, hàng loạt các văn bản pháp luật mang tầm quốc tế và quốc gia được ban hành đã ghi nhận quyền dân sự nhằm khẳng định sự tôn trọng, đề cao và bảo vệ quyền, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng xâm phạm của các chủ thể đến sự hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trong trường hợp có vi phạm xảy ra. Trên cơ sở của các văn bản pháp luật quốc tế có ghi nhận về quyền dân sự (như Hiến chương Liên hiệp quốc; Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người 1948; Công ước quốc tế về Quyền dân sự, chính trị 1966), các bản Hiến pháp của Việt Nam cũng đã có sự nội luật hóa, chuyển tải nội dung quyền dân sự với tư cách là thành viên tham gia ký kết các điều ước quốc tế này.

Qua bốn bản Hiến pháp của Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992), quyền dân sự được ghi nhận và ngày càng hoàn thiện dần cả về nội dung và hình thức thể hiện cho phù hợp với các điều kiện khách quan thay đổi và với xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài thực thi quy định của Hiến pháp nói chung, các quy định về quyền con người, quyền dân sự nói riêng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, khiến việc triển khai thi hành các quyền dân sự gặp nhiều khó khăn… Các nhà lập hiến Việt Nam trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành cũng hết sức quan tâm, chú trọng đến các quyền dân sự hiện diện trong Hiến pháp, thể hiện bằng việc: trong xây dựng Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 (Dự thảo) đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, đưa ra những sửa đổi, bổ sung hợp lý, tiến bộ. Tuy nhiên, sự sửa đổi, bổ sung đó cũng chưa hẳn đã đem lại sự thay đổi đáng kể, hoàn thiện một bước căn bản cho các quy định của Hiến pháp hiện hành về quyền dân sự. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm ra những điểm tiến bộ mà dự thảo đã đạt được và xem xét những điểm chưa có sự thay đổi đáng kể hay đã thay đổi nhưng chưa thực sự hợp lý, từ đó đưa ra một vài kiến nghị trên cơ sở đề xuất sửa đổi trực tiếp một số điều khoản trong dự thảo về quyền dân sự, góp phần hoàn thiện các quy định của Hiến pháp về nhóm quyền dân sự của cá nhân.

2. Những quy định tiến bộ của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với Hiến pháp hiện hành

Với quan điểm sửa đổi toàn diện các quy định của Hiến pháp hiện hành cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, các quy định về nhóm quyền dân sự cũng được quan tâm và có nhiều sửa đổi đáng khích lệ như sau:

Thứ nhất, có thể khẳng định rằng, Dự thảo đã có sự kế thừa những giá trị khoa học về nội dung và kỹ thuật lập hiến trong các bản Hiến pháp trước. Các quyền dân sự tiến bộ của Hiến pháp 1992 được tiếp tục kế thừa trên cơ sở có sự thay đổi về kỹ thuật lập hiến nhằm đảm bảo tính khả thi của các quyền. Hiến pháp trước đây, khi quy định nội dung các quyền dân sự thường kèm theo cụm từ “theo quy định của pháp luật” phía sau mỗi quyền, điều này có vẻ như là một “cánh cửa mở” giúp trải rộng nội hàm các quyền dân sự mà không bị bó hẹp bởi những cụm từ mang tính khái quát cao như Hiến pháp quy định. Tuy nhiên, cũng chính quy định này lại làm vô hiệu hóa việc thực hiện các quyền dân sự của công dân, của con người vì thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời làm giảm vai trò, tầm quan trọng của các quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung và dễ tạo điều kiện cho một số chủ thể quản lý quy định các quyền dân sự bằng văn bản dưới luật. Với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành, dự thảo lần này đã khắc phục phần lớn các hạn chế nêu trên bằng việc cắt bỏ, sửa đổi các cụm từ “theo quy định của pháp luật” trong một số quy định chuyển thành “theo luật định”.

 Thứ hai, Dự thảo đã có sự kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp của các nước trên thế giới như đã đưa quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung trở về đúng vị trí xứng đáng với tầm quan trọng của quyền đó là xếp vị trí thứ hai chỉ sau chương về chế độ chính trị. Không những vậy, nhiều quyền dân sự còn được “đẩy” lên trước nhóm quyền chính trị, kinh tế,… Có thể đơn cử như sau: quyền sống (Điều 21 Dự thảo); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 22); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 23),… sau đó mới đến quyền bầu cử của công dân (Điều 28), quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân (Điều 29),  quyền biểu quyết của công dân khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 30),…

Thứ ba, đã cân bằng được cấu trúc giữa các quyền trong nhóm quyền dân sự bằng cách xóa một phần nội dung của quyền hoặc nhập các quyền có nội dung tương thích lại với nhau thành một điều luật (ví dụ: nhập Điều 55 và 59 của Hiến pháp hiện hành thành Điều 38 của Dự thảo,…). Số lượng các quyền được bổ sung cho nhóm quyền dân sự ngày càng được mở rộng hơn so với trước đây tạo sự cân đối so với các nhóm quyền khác (theo quy định của Hiến pháp1992 nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội có số lượng chiếm ưu thế nhiều hơn) bằng việc xuất hiện nhiều quyền hoàn toàn mới trong dự thảo như: quyền sống (Điều 21 Dự thảo)… Điều này đã chứng tỏ, sự quan tâm, chú trọng của Nhà nước ta đối với nhóm quyền dân sự – được xem là hạt nhân của luật nhân quyền quốc tế.

Thứ tư, Dự thảo đã mở rộng chủ thể của nhóm quyền dân sự.

Nếu như, Chương V Hiến pháp 1992 xác định chủ thể quyền quá hẹp (hầu hết điều khoản về quyền đều ấn định chủ thể của quyền là “công dân”). Điều này không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế và xu thế chung của Hiến pháp trên thế giới trong đó đối với phần lớn các quyền, chủ thể quyền được xác định là “mọi người” (tức là cả công dân và người nước ngoài, người không quốc tịch đang hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia). Về hạn chế nêu trên, Dự thảo đã khắc phục khá triệt để. Hầu hết tất cả những quyền có thể áp dụng cho cả người nước ngoài đều đã được chuyển đổi đại từ nhân xưng chỉ chủ thể quyền từ “công dân” sang “mọi người” hoặc “không ai”. Sự thay đổi này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với nhóm quyền dân sự, bởi lẽ đây được xác định là nhóm quyền thiêng liêng, tự nhiên, bẩm sinh dành cho tất cả mọi người. Do đó, nó không thể bị hạn chế về chủ thể thụ hưởng quyền.

3. Những hạn chế của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với  Hiến pháp hiện hành

Dự thảo đã có những sửa đổi, bổ sung tiến bộ giúp hoàn thiện dần các quy định về quyền dân sự, tuy nhiên sự sửa đổi, bổ sung đó vẫn chưa triệt để, vẫn còn nhiều điểm hạn chế ít nhiều tác động đến việc hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân như sau:

  Thứ nhất, chưa có sự  nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ, vẫn còn nhiều điều khoản sử dụng cụm từ “theo pháp luật”, “do pháp luật quy định” hoặc “theo quy định của pháp luật”, cụ thể như sau:

   Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73): 2…Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định.

   Điều 24 (giữ nguyên Điều 68): Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

   Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69): Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

 Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 74): 2…Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nhiều quyền dân sự quy định còn thiếu tính chặt chẽ (đặc biệt đối với các quyền mới) chẳng hạn như quy định tại Điều 21 của Dự thảo về quyền sống: “Mọi người có quyền sống” lại quy định một cách quá sơ sài, mặc dù việc đưa quyền này vào Dự thảo Hiến pháp là hoàn toàn tiến bộ, đáng ghi nhận. Dẫu biết, quyền sống là quyền tự nhiên, là quyền cố hữu của mọi con người nhưng không có nghĩa là không bị giới hạn. Đối với các tội phạm nguy hiểm cần phải loại bỏ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội thì hình phạt tử hình vẫn được áp dụng. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở nội dung “Mọi người có quyền sống” như Điều 21 của Dự thảo là không phù hợp với thực tiễn chính sách hình sự ở nước ta cũng như nội dung của công ước về quyền dân sự, chính trị 1966.

Thứ ba, còn tồn tại nhiều quyền quy định chưa có tính logic (ví dụ như: Điều 23 Dự thảo“…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định”), mang tính chất “ban phát”, “đề phòng” của Nhà nước đối với công dân thường thể hiện dưới cấu trúc: “công dân có quyền…” hoặc “mọi người có quyền” (như: Điều 22 Dự thảo “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm..”; Điều 23 Dự thảo: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác…”; Điều 25 Dự thảo “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật…”).

4. Những kiến nghị cụ thể, sửa đổi, bổ sung một số quyền dân sự của Dự thảo

4.1. Quyền đi lại và cư trú

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68) Dự thảo quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”.

Thứ nhất, theo chúng tôi, nên xác định đây không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền con người. Bởi lẽ, vấn đề đi lại và cư trú là những nội hàm quan trọng không thể thiếu thuộc về bản năng di chuyển để sinh tồn của loài người. Do đó, đối tượng thụ hưởng quyền này là không thể giới hạn. Mặt khác, việc mở rộng phạm vi quyền con người hiện nay là phù hợp với xu thế hội nhập của thế giới.

Thứ hai, thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” bằng “theo quy định của luật” vì quy định như Dự thảo sẽ không đảm bảo được sự tương thích với các quy định tại Điều 15 và 20 (Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định). Mặt khác, các quy định như Dự thảo sẽ dẫn đến tình trạng, các quyền cơ bản của con người của công dân sẽ bị xâm phạm bởi chính các chủ thể có thẩm quyền khi ban hành các văn bản pháp luật tùy tiện, cản trở, hạn chế, thu hẹp quyền con người, quyền công dân.

Vì vậy, điều này cần được thể hiện như sau:

Điều 24…

Mọi người có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài theo luật định. Công dân Việt Nam có quyền từ nước ngoài về nước theo quy định của luật”.

4.2. Quyền về hôn nhân và gia đình

Điều 39 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 64) quy định:

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Theo chúng tôi, cần xác định lại chủ thể của quyền kết hôn và ly hôn bởi lẽ:

 Thứ nhất, theo quan niệm truyền thống, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống, còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Vì lẽ đó, gốc rễ để hình thành nên nền tảng của một gia đình, chính là sự kết hợp tình yêu giữa nam và nữ (đây được xem là hôn nhân dị tính –  giữa hai người khác giới tính với nhau) Tuy nhiên hiện nay, thế giới còn biết đến hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới (gọi tắt là cộng đồng LGBT). Thực tế, mọi người sinh ra, không ai được tự do lựa chọn giới tính cho chính mình vì mỗi một cá thể người là một sản phẩm của tạo hóa tạc ra. Do đó, sợi dây kết nối tình cảm của con người với nhau cũng xuất phát từ bản ngã tự nhiên ấy. Việc thừa nhận hôn nhân của những người thuộc cộng đồng LGTBT không làm xói mòn hay phá vỡ các giá trị của hôn nhân truyền thống cũng như không gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của các nhóm công dân khác mà ngược lại còn làm tăng thêm tính nhân văn, tăng thêm các giá trị thuộc về quyền con người.

Thứ hai, hiện nay, việc thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới không phải là câu chuyện đi ngược lại với quy luật của tạo hóa mà chính là con người đang sống đúng với sự ban tặng của tạo hóa. Vì vậy, dường như thế giới đã có cái nhìn thiện cảm và cởi mở hơn đối với hôn nhân của cộng đồng LGBT. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hiệp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012)[1].., xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại. Không những vậy, nhiều quốc gia hiện nay như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Thụy Điển,… đã thừa nhận hôn nhân của LGBT. Điều này cho thấy, động thái tiếp nhận tích cực của nhân loại đối với các vấn đề liên quan đến giới tính và bản dạng giới.

Thứ ba, về tính thống nhất với các quy định khác của Dự thảo Hiến pháp: Dưới góc độ này, các nội dung quy định tại Điều 39 không thống nhất với các Điều 15 và Điều 17của dự thảo. Điều 15 và 17 đã khẳng định ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm, chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy, tất cả các quyền của con người, quyền công dân phải được bảo đảm và bình đẳng, không ai bị phân biệt đối xử và chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp (không có trường hợp do xu hướng tính dục hay bản dạng giới[2]). Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 và Điều 39 đã giới hạn một số quyền của cộng đồng LGBT dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, không đảm bảo tính bình đẳng, nhân văn của Hiến pháp, pháp luật, không có tác dụng trong việc bảo vệ cộng đồng LGBT. Nếu không điều chỉnh quy định Điều 39 sẽ làm giảm tính thống nhất của Dự thảo Hiến pháp.

Do đó, theo chúng tôi, Điều này nên được sửa đổi như sau:

Thay cụm từ “nam, nữ” bằng “mọi người”; bỏ cụm từ “một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”; thêm mục 3 để phù hợp hơn với truyền thống tốt đẹp cùa gia đình Việt Nam.

 “1. Mọi người có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.

 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

3. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.” (more…)

Lại Luật trưng cầu ý dân

Tháng Sáu 6, 2013

Nên nhớ là Luật này và Luật tiếp cận thông tin đã từng đổ vỡ một lần rồi đấy, không khéo lại lặp lại thôi ^^

Trưng cầu ý dân: Lá phiếu của dân là quyết định cuối cùng

 “Đưa ra trưng cầu ý dân một vấn đề quan trọng đồng nghĩa với việc các cơ quan nhà nước trao trả lại quyền lực đã được ủy nhiệm cho chủ thể thực sự của quyền lực là nhân dân. Khi đó, quyết định của người dân là quyết định cuối cùng”…

Đây là nguyên tắc được “đặt hàng” cho cơ quan soạn thảo luật Trưng cầu ý dân – Hội Luật gia Việt Nam. Ngày 4/6, Hội tổ chức hội thảo khoa học “Trưng cầu ý dân- những vấn đề lý luận và thực tiễn” – cuộc hội thảo khoa học đầu tiên được tổ chức nhằm triển khai kế hoạch nghiên cứu, xây dựng Luật trưng cầu ý dân mà Hội Luật gia được giao chủ trì biên soạn.

Lá phiếu có quyền tối hậu
Các nhà khoa học, chuyên gia luật học hàng đầu tham dự hội thảo khởi thảo luật Trưng cầu ý dân.
Các nhà khoa học, chuyên gia luật học hàng đầu tham dự hội thảo khởi thảo luật Trưng cầu ý dân.

GS.TSKH Đào Trí Úc (ĐH Quốc gia Hà Nội) nêu rõ, trưng cầu ý dân là một chế định xã hội có tính chất như một phương pháp khảo sát xã hội học nhằm thu thập thông tin phản ánh quan điểm, ý chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân về những vấn đề có tính cơ bản, phổ biến phức tạp, được xã hội quan tâm, để phân tích, đánh giá và làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quyết định, chủ trương, biện pháp cụ thể. Tuy nhiên, mức độ thực hiện chế định dân chủ trực tiếp trong việc trưng cầu ý dân cao hơn nhiều.

Đây là hình thức lấy ý kiến đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước hoặc của từng địa phương thông qua hình thức bỏ phiếu trực tiếp. Thông qua hoạt động này, người dân đến tuổi trưởng thành, với tư cách công dân của mình thể hiện chính kiến một cách cụ thể trên những vấn đề cần có quyết định dứt khoát sau khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã làm hết sức mình nhưng chưa tìm được giải pháp thỏa đáng.

Qua đó, cử tri có quyền và có dịp bày tỏ quan điểm của mình, và có điều kiện, kiểm tra, giám sát trực tiếp việc thực hiện ý kiến trưng cầu, được cung cấp đầy đủ thông tin về các vấn đề và sự kiện có liên quan…

Việc xây dựng luật Trưng cầu ý dân, theo đó, sẽ tạo thêm cơ sở pháp lý để hiện thực hóa chế định dân chủ trực tiếp, là một trong những công cụ mở rộng dân chủ, tạo sự đồng thuận xã hội cần thiết cho quá trình phát triển của đất nước.

Với những e ngại về khả năng không kiểm soát được khi người dân với lá phiếu biểu quyết của mình có quyền tối hậu trong việc quyết định các vấn đề phức tạp hay lo lắng trình độ dân trí chưa đủ để mỗi người dân nắm bắt được thực chất các vấn đề hệ trọng của đất nước để quyết định, ông Úc cho rằng những quan ngại này có cơ sở. Tuy nhiên, hơn tất cả, GS Úc khẳng định, bản thân việc trưng cầu ý dân không chỉ là một cuộc vận động chính trị mà có quy trình chặt chẽ đảm bảo nhà nước và xã hội có khả năng giải quyết, kiểm soát tình hình phức tạp, nếu có.

Bàn đến cách thức và thủ tục tổ chức trưng cầu ý dân như thế nào để bảo đảm được tính chính xác của kết quả bỏ phiếu, phản ánh được đúng đắn ý nguyện của nhân dân, ThS.Đinh Thế Hưng (Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, một cuộc trưng cầu dân ý sơ sài, thiếu sự chuẩn bị và không chặt chẽ về mặt thủ tục sẽ khiến người dân thờ ơ, bỏ phiếu cho xong việc.

Ngược lại, cuộc trưng cầu dân ý quá rườm rà và phức tạp về thủ tục không những làm giảm đi tính kịp thời của quyết định mà nó còn mất đi ý nghĩa của trưng cầu dân ý, đồng thời là rào cản cho nhân dân thực hiện quyền lực của mình.

Tính tối cao của quyền lực nhân dân

PGS.TS Trương Thị Hồng Hà (Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) đề xuất, Luật Trưng cầu ý dân được xây dựng cần được đảm bảo là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân theo pháp luật, tránh khuynh hướng hình thức trong việc trưng cầu ý dân. Đồng thời, cũng cần thiết kế cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong trưng cầu dân ý, đảm bảo kết quả trưng cầu ý dân mang tính khách quan, công khai và chính xác; ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật, thiếu ý thức trách nhiệm trong việc tổ chức trưng cầu ý dân.

ThS.Ngô Trung Thành (Vụ trưởng Vụ pháp luật – Văn phòng Quốc hội) nêu thực tế, Hiến pháp hiện hành đã quy định về trưng cầu ý dân như một quyền cơ bản của công dân nhưng lại trao thẩm quyền quyết định đối với mọi công việc của nhà nước cho các cơ quan như Quốc hội, UB Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ… Hơn nữa, Hiến pháp cũng không quy định rõ hiệu lực pháp lý của kết quả trưng cầu ý dân nên quy định mãi vẫn “treo” đó.

Ông Thành đặt vấn đề, luật Trưng cầu ý dân cần thiết kế trao quyền quyết định việc này cho Quốc hội. Như vậy, Quốc hội có toàn quyền quyết định đưa bất kỳ vấn đề nào đó ra trưng cầu ý dân mà không có giới hạn nào. Mặc dù các công việc đã được giao cho các cơ quan nhà nước nhưng Quốc hội khi thấy một vấn đề quan trọng phải đưa ra trưng cầu ý dân thì việc này đồng nghĩa với việc các cơ quan nhà nước trao trả lại quyền lực đã được ủy nhiệm cho chủ thể thực sự của quyền lực là nhân dân. Khi đó, quyết định của người dân là quyết định cuối cùng. Kết quả trưng cầu ý dân phản ánh tính tối cao quyền lực của nhân dân nên kết quả trưng cầu ý dân không cần phải phê chuẩn mà có giá trị thi hành.

GS.TSKH Đào Trí Úc nêu kinh nghiệm ở các nước, việc trưng cầu ý dân có nhiều mức độ: trưng cầu có tính chất quyết định, trưng cầu có tính tham khảo, sáng kiến của nhân dân về việc giải quyết một vấn đề nào đó; khiếu nại về vụ, việc cụ thể… Trong số các hình thức đó của cơ chế dân chủ trực tiếp thì trưng cầu ý dân có tính quyết định là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất, bởi vì nó bảo đảm tính hiệu lực tức thời của kết quả biểu quyết.

Ông Úc đề nghị chọn trưng cầu ý dân có tính quyết định là đối tượng điều chỉnh của luật Trưng cầu ý dân với quy định “kết quả trưng cầu ý dân có hiệu lực kể từ ngày công bố, không cần sự phê chuẩn của bất cứ cơ quan nhà nước nào”.

Đại biểu cũng nhấn mạnh tính bắt buộc thi hành của kết quả trưng cầu ý dân. Cụ thể, kết quả biểu quyết trưng cầu ý dân có hiệu lực thi hành và phải được cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng; mọi người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Chủ tịch Hội Luật gia Phạm Quốc Anh cho biết, Hội đã được UB Thường vụ “đặt hàng” soạn thảo dự luật này sớm nhất có thể, để sẵn sàng trình Quốc hội xem xét, thông qua trong 2 kỳ họp năm sau (2014) dù luật này không có trong chương trình chính thức của kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh khóa này.

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật đổi địa chỉ Email

Tháng Hai 5, 2013
Thông báo: Thay đổi địa chỉ e-mail Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật trân trọng thông báo:

Do có sự cố kỹ thuật từ phía nhà cung cấp dịch vụ, nên trong 4 ngày gần đây Tạp chí không thể đăng nhập vào địa chỉ email đang sử dụng: tcnnpl@hn.vnn.vn. Tất cả các bài viết do cộng tác viên gửi đến Tạp chí đều không nhận được và bị thông báo lỗi. Vì vậy, bắt đầu từ ngày 04/02/2013, Tạp chí ngừng sử dụng hộp thư điện tử này và chuyển sang sử dụng hộp thư mới có địa chỉ là: tcnnpl@isl.gov.vn

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật thành thật xin lỗi vì sự bất tiện này!

Định hướng chủ đề viết bài đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2013

Tháng Hai 5, 2013

Định hướng chủ đề viết bài đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2013

Chuyên mục Nhà nước và pháp luật

Năm 2013, Tạp chí sẽ chú trọng đăng tải các bài viết về đổi mới tổ chức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Trong đó, ưu tiên đăng tải các bài viết liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng; cơ sở lý luận, thực tiễn và những vấn đề cần sửa đổi trong Hiến pháp 1992, về kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền ở Việt Nam; về tổ chức bộ máy nhà nước trong nhiệm kỳ mới; hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội. Tiếp tục duy trì tiểu mục “Bàn về lập hiến” với việc chú trọng đăng tải những bài góp ý cho Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (Dự thảo 1). Mặt khác, chủ động đặt và đăng các bài viết về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước thực hiện quyền hành pháp, quyền tư pháp.

 Tạp chí cũng ưu tiên đăng tải những bài viết liên quan đến việc nâng cao chất lượng và hoạch định chính sách trong hoạt động lập pháp; về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW, cải cách hành chính; đổi mới hoạt động lập pháp; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật định hướng đến năm 2020 theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW; đăng tải một số bài viết về nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp, nhà nước và pháp luật.

Chuyên mục Bàn về các Dự án luật

Đăng tải các bài nghiên cứu về các nội dung của các Dự án luật sẽ quan trọng trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII của Quốc hội như: Luật doanh nghiệp (sửa đổi); Luật đầu tư (sửa đổi); Luật ban hành quyết định hành chính; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi); Luật việc làm; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng; Luật đất đai (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình….

Ngoài ra, chú trọng đăng tải cá bài viết liên quan đến các dự án luật, pháp lệnh trong chương trình chuẩn bị, như: Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi); Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi); Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi); Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (sửa đổi); Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật trưng cầu ý dân; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất); Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự; Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi); Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi); Bộ luật dân sự (sửa đổi); Bộ luật hình sự (sửa đổi); Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi); Luật Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Công an nhân dân (sửa đổi).

Chuyên mục Thực tiễn pháp luật

Tiếp tục đăng tải các bài viết liên quan đến việc triển khai thực hiện các luật, pháp lệnh trên thực tế, nêu và phân tích được những khó khăn, vướng mắc, hạn chế của các quy định pháp luật trong quá trình thực hiện, đề xuất những giải pháp khắc phục, đồng thời Tạp chí coi trọng các bài viết cung cấp thông tin về kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội.

Chú trọng đăng các bài về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2012; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2013 và các báo cáo khác của các cơ quan hữu quan theo quy định của pháp luật.

Ưu tiên các bài viết về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án; hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành thuộc lĩnh vực phụ trách của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Chuyên mục Chính sách

Xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội mà nghị quyết của Quốc hội đã đề ra, Chuyên mục tập trung vào các vấn đề hoàn thiện các chính sách liên quan đến việc triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, những yêu cầu trong công cuộc hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chống tham nhũng, lãng phí; phòng và chống tội phạm; các chính sách gắn với phát triển bền vững, tăng trưởng với công bằng xã hội và chống lạm phát, đảm bảo việc làm, an sinh xã hội. Coi trọng các bài viết đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực kinh tế – dân sự, lao động, văn hoá giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội.

Chuyên mục Kinh nghiệm quốc tế

Đăng các bài viết về các vấn đề pháp luật quốc tế liên quan đến những kinh nghiệm lập hiến, lập pháp và tổ chức bộ máy nhà nước của các nước; các thiết chế bảo vệ quyền của tổ chức, cá nhân trong quá trình hội nhập quốc tế; các cơ chế quốc tế về phòng, chống tội phạm; những vấn đề liên quan đến bảo vệ chủ quyền quốc gia; bảo vệ an ninh chủ quyền lãnh thổ trên biển….

Thông báo về việc sử dụng bài viết

Tháng Một 23, 2013

Thân chào tác giả TRƯƠNG HỒNG QUANG!

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật vui mừng và trân trọng thông báo bài viết: “MỘT SỐ KIẾN NGHỊ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TẠI VIỆT NAM” của tác giả đã được duyệt đưa vào ngân hàng bài có thể sử dụng để đăng trên Tạp chí trong thời gian tới. Vì vậy, chúng tôi đề nghị tác giả không gửi bài viết đến một Tạp chí khác và cho phép chúng tôi được quyền chủ động đăng tải bài viết vào thời gian thích hợp sớm nhất có thể. Trong trường hợp bài viết này đã được đăng tải trên một Tạp chí khác, đề nghị tác giả thông báo lại để chúng tôi đưa bài viết ra khỏi ngân hàng bài có thể sử dụng.

Trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự cộng tác thường xuyên của tác giả.

Kính chúc tác giả và gia đình sức khoẻ và thành công!

Lý lịch khoa học đến hết tháng 12/2012

Tháng Một 12, 2013

Đề tài nghiên cứu, Dự án, Hội thảo đã tham gia

2007               Đề tài: “Một số vấn đề về Quyền được chết đối với quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam hiện nay” (Tác giả)

2008            Đề tài: “Pháp luật điều chỉnh hành vi Quảng cáo so sánh của Liên minh Châu Âu và Việt Nam: Nghiên cứu dưới góc độ so sánh luật” (Tác giả)

2009            Đề tài: “Xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh mới tại Việt Nam hiện nay” (Tác giả)

2009               Đề tài: “Nghiên cứu so sánh pháp luật bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của một số nước trên thế giới và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam” (viết Báo cáo phúc trình)

2009               Tham luận: “Sinh viên Luật với cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu Khoa học – Thực trạng và Giải pháp”, Hội thảo Phong cách học của Sinh viên Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 5/2009.

2009            Đề tài: “Nhận diện trường phái Kinh tế học pháp luật” (Viết Báo cáo phúc trình)

2009             Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án                   hình sự” (tham gia khảo sát)

2010               Đề tài: “Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp – công cụ pháp lý bảo vệ Người tiêu dùng” (viết chuyên đề, Báo cáo phúc trình)

2010               Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng nuôi con nuôi” (tham gia khảo sát)

2010               Dự án “Tăng cường nhận thức pháp luật, xây dựng Hương ước tại Việt Nam” (tham gia giảng dạy tại Phù Luông, Bá Thước, Thanh Hóa)

2010               Đề tài cấp Nhà nước: “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” (viết chuyên đề, Báo cáo kết quả tổng hợp)

2010               Đề tài cấp Bộ: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư” (viết chuyên đề, xây dựng Báo cáo phúc trình)

2010               Đề tài cấp Bộ: “Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện quyền hiến định của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổ 2001) về tham gia quản lý nhà nước” (Thư ký)

2011               Tham luận: “Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng và mức độ thể chế hóa chủ trương này trong Luật Công chứng”, Hội thảo cấp Bộ: Xã hội hóa hoạt động công chứng sau 5 năm triển khai Luật Công chứng, Hà Nội, tháng 11/2011

2011               Tham luận: “Hiệu quả phản biện xã hội của một số chủ thể thông qua một số trường hợp cụ thể tại Việt Nam”, Hội thảo cấp Bộ: Những giải pháp pháp lý cơ bản của việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả hoạt động phản biện xã hội chính sách và pháp luật của Nhà nước, Hà Nội, tháng 12/2011 (Thư ký).

2011               Dự án điều tra cơ bản “Thực trạng thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” (Thư ký)

2012               Đề tài cấp Bộ “Phân công quyền lực giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay – Lịch sử, Lý luận và Thực tiễn” (Thư ký)

2012               Hội thảo cơ sở “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của cán bộ trẻ Viện Khoa học Pháp lý” (Chủ nhiệm)

2013               Đề tài cấp cơ sở “Các vấn đề pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay” (Chủ nhiệm)

Tạp chí chuyên ngành

2009               Bàn về Quyền được chết và vấn đề Luật An tử ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước & Pháp                     luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số 06/2009 (tác giả)

2010               Các nguyên lý của chế định trách nhiệm sản phẩm tại Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số 01/2010 (đồng tác giả)

2010               Chế định trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia Asean, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số tháng 07/2010 (đồng tác giả)

2010             Sinh viên Luật với Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học – Thực trạng và giải pháp,           Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), 07/2010 (tác giả)

2010             Một số vấn đề về hành vi quảng cáo so sánh theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Tạp                       chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), 08/2010 (tác giả)

2010             Nghiên cứu xây dựng một số nội dung cơ bản của Luật An tử, Tạp chí Nghiên cứu Lập                    pháp (Văn phòng Quốc hội), số 19, 10/2010 (tác giả)

2010               Một số vấn đề chung về chế định Trách nhiệm sản phẩm và vai trò của chế định này dưới góc độ bảo vệ Người tiêu dùng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số 12/2010 (đồng tác giả)

2011            Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam: Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 6, 3/2011 (tác giả)

2011            Bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả và nhãn hiệu hàng hoá theo pháp luật Nhật Bản và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 6/2011 (đồng tác giả).

2011            Hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), 6/2011 (đồng tác giả)

2011            Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Canada, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), 7/2011 (tác giả)

2011            Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), 9/2011 (đồng tác giả)

2011            Phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 19, tháng 10/2011 (tác giả)

2012            Trường phái Kinh tế học Pháp luật và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 5, tháng 3/2012 (đồng tác giả)

2012            Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 3/2012 (tác giả)

2012            Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 7/2012 (tác giả)

2012            Đánh giá tác động môi trường trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số 15, tháng 8/2012 (tác giả)

2012            Bảo vệ môi trường trong các làng nghề: Những bất cập trong thực thi pháp luật, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số 21, tháng 11/2012 (tác giả)

2012            Vấn đề trưng cầu ý dân trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số tháng 8/2012 (tác giả)

2012            Những vấn đề cơ bản về quyền phúc quyết, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số tháng 10/2012 (tác giả)

2012            Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 24, tháng 12/2012 (tác giả)

2012               Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Tạp chí Luật học (ĐH Luật Hà Nội), số tháng 12/2012 (tác giả).

 

Sách chuyên khảo, sách tham khảo

2009               Sức nước ngàn năm (tập thể tác giả), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 9/2009

2011            Tìm hiểu Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 3/2011 (đồng tác giả)

2011            Tìm hiểu Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 9/2011 (đồng tác giả)

2012            Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tháng 5/2012 (tập thể tác giả)

2012               Về Trường phái Kinh tế học Pháp luật, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 7/2012 (tập thể tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 6/2012 (đồng tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 6/2012 (đồng tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 9/2012 (tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 11/2012 (đồng tác giả)

2012            Hỏi đáp Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tháng 11/2012 (đồng tác giả)