Archive for the ‘Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp’ category

Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành

Tháng Sáu 25, 2013
Quyền dân sự với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành
Bài viết này lấy nhiều thông tin trong bài viết của mình nhưng chú thích chán quá 🙂

1. Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển của các thế hệ quyền con người cho thấy, quyền dân sự (cùng với quyền chính trị) là thế hệ quyền xuất hiện đầu tiên gắn liền với cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây. Sự xuất hiện mang tính khởi đầu này tuy không là yếu tố hoàn toàn nhưng cũng có thể được coi là một căn cứ để đánh giá vai trò, tầm quan trọng của nhóm quyền dân sự so với các nhóm quyền khác. Bởi, chỉ khi nó được phần đông cộng đồng quan tâm trước tiên và trên hết thì quyền dân sự mới được các cá nhân đòi hỏi, yêu cầu hưởng thụ sớm đến như vậy. Mặc dầu quyền dân sự – một trong những quyền con người nói chung – là quyền tự nhiên do tạo hóa ban tặng, mặc nhiên được thừa nhận mà không cần sự ban phát từ chủ thể mang quyền lực nhà nước. Đặc trưng của nhóm quyền dân sự mang tính thụ động nghĩa là không cần có sự can thiệp từ phía nhà nước, cá nhân cũng có thể tự mình thực hiện. Điều này cũng chính là yêu cầu để đảm bảo thực thi quyền dân sự – hạn chế đến mức thấp nhất khả năng can thiệp của cơ quan công quyền góp phần làm tăng tính hiệu quả trong việc hưởng thụ quyền dân sự. Tuy nhiên, quyền dân sự của cá nhân sẽ có nguy cơ và thực tế đang bị xâm hại bởi vô số các chủ thể mà nhiều nhất là chủ thể mang quyền lực nhà nước. Bởi vậy, đòi hỏi phải có sự ghi nhận, bảo vệ quyền dân sự bằng các quy định của pháp luật.

Với sự ảnh hưởng của nhóm quyền dân sự đến đời sống cộng đồng và nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi chính đáng đó, hàng loạt các văn bản pháp luật mang tầm quốc tế và quốc gia được ban hành đã ghi nhận quyền dân sự nhằm khẳng định sự tôn trọng, đề cao và bảo vệ quyền, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng xâm phạm của các chủ thể đến sự hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trong trường hợp có vi phạm xảy ra. Trên cơ sở của các văn bản pháp luật quốc tế có ghi nhận về quyền dân sự (như Hiến chương Liên hiệp quốc; Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người 1948; Công ước quốc tế về Quyền dân sự, chính trị 1966), các bản Hiến pháp của Việt Nam cũng đã có sự nội luật hóa, chuyển tải nội dung quyền dân sự với tư cách là thành viên tham gia ký kết các điều ước quốc tế này.

Qua bốn bản Hiến pháp của Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992), quyền dân sự được ghi nhận và ngày càng hoàn thiện dần cả về nội dung và hình thức thể hiện cho phù hợp với các điều kiện khách quan thay đổi và với xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài thực thi quy định của Hiến pháp nói chung, các quy định về quyền con người, quyền dân sự nói riêng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, khiến việc triển khai thi hành các quyền dân sự gặp nhiều khó khăn… Các nhà lập hiến Việt Nam trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành cũng hết sức quan tâm, chú trọng đến các quyền dân sự hiện diện trong Hiến pháp, thể hiện bằng việc: trong xây dựng Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 (Dự thảo) đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, đưa ra những sửa đổi, bổ sung hợp lý, tiến bộ. Tuy nhiên, sự sửa đổi, bổ sung đó cũng chưa hẳn đã đem lại sự thay đổi đáng kể, hoàn thiện một bước căn bản cho các quy định của Hiến pháp hiện hành về quyền dân sự. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm ra những điểm tiến bộ mà dự thảo đã đạt được và xem xét những điểm chưa có sự thay đổi đáng kể hay đã thay đổi nhưng chưa thực sự hợp lý, từ đó đưa ra một vài kiến nghị trên cơ sở đề xuất sửa đổi trực tiếp một số điều khoản trong dự thảo về quyền dân sự, góp phần hoàn thiện các quy định của Hiến pháp về nhóm quyền dân sự của cá nhân.

2. Những quy định tiến bộ của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với Hiến pháp hiện hành

Với quan điểm sửa đổi toàn diện các quy định của Hiến pháp hiện hành cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, các quy định về nhóm quyền dân sự cũng được quan tâm và có nhiều sửa đổi đáng khích lệ như sau:

Thứ nhất, có thể khẳng định rằng, Dự thảo đã có sự kế thừa những giá trị khoa học về nội dung và kỹ thuật lập hiến trong các bản Hiến pháp trước. Các quyền dân sự tiến bộ của Hiến pháp 1992 được tiếp tục kế thừa trên cơ sở có sự thay đổi về kỹ thuật lập hiến nhằm đảm bảo tính khả thi của các quyền. Hiến pháp trước đây, khi quy định nội dung các quyền dân sự thường kèm theo cụm từ “theo quy định của pháp luật” phía sau mỗi quyền, điều này có vẻ như là một “cánh cửa mở” giúp trải rộng nội hàm các quyền dân sự mà không bị bó hẹp bởi những cụm từ mang tính khái quát cao như Hiến pháp quy định. Tuy nhiên, cũng chính quy định này lại làm vô hiệu hóa việc thực hiện các quyền dân sự của công dân, của con người vì thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời làm giảm vai trò, tầm quan trọng của các quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung và dễ tạo điều kiện cho một số chủ thể quản lý quy định các quyền dân sự bằng văn bản dưới luật. Với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hiện hành, dự thảo lần này đã khắc phục phần lớn các hạn chế nêu trên bằng việc cắt bỏ, sửa đổi các cụm từ “theo quy định của pháp luật” trong một số quy định chuyển thành “theo luật định”.

 Thứ hai, Dự thảo đã có sự kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp của các nước trên thế giới như đã đưa quyền dân sự nói riêng, quyền con người nói chung trở về đúng vị trí xứng đáng với tầm quan trọng của quyền đó là xếp vị trí thứ hai chỉ sau chương về chế độ chính trị. Không những vậy, nhiều quyền dân sự còn được “đẩy” lên trước nhóm quyền chính trị, kinh tế,… Có thể đơn cử như sau: quyền sống (Điều 21 Dự thảo); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 22); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 23),… sau đó mới đến quyền bầu cử của công dân (Điều 28), quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân (Điều 29),  quyền biểu quyết của công dân khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 30),…

Thứ ba, đã cân bằng được cấu trúc giữa các quyền trong nhóm quyền dân sự bằng cách xóa một phần nội dung của quyền hoặc nhập các quyền có nội dung tương thích lại với nhau thành một điều luật (ví dụ: nhập Điều 55 và 59 của Hiến pháp hiện hành thành Điều 38 của Dự thảo,…). Số lượng các quyền được bổ sung cho nhóm quyền dân sự ngày càng được mở rộng hơn so với trước đây tạo sự cân đối so với các nhóm quyền khác (theo quy định của Hiến pháp1992 nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội có số lượng chiếm ưu thế nhiều hơn) bằng việc xuất hiện nhiều quyền hoàn toàn mới trong dự thảo như: quyền sống (Điều 21 Dự thảo)… Điều này đã chứng tỏ, sự quan tâm, chú trọng của Nhà nước ta đối với nhóm quyền dân sự – được xem là hạt nhân của luật nhân quyền quốc tế.

Thứ tư, Dự thảo đã mở rộng chủ thể của nhóm quyền dân sự.

Nếu như, Chương V Hiến pháp 1992 xác định chủ thể quyền quá hẹp (hầu hết điều khoản về quyền đều ấn định chủ thể của quyền là “công dân”). Điều này không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế và xu thế chung của Hiến pháp trên thế giới trong đó đối với phần lớn các quyền, chủ thể quyền được xác định là “mọi người” (tức là cả công dân và người nước ngoài, người không quốc tịch đang hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia). Về hạn chế nêu trên, Dự thảo đã khắc phục khá triệt để. Hầu hết tất cả những quyền có thể áp dụng cho cả người nước ngoài đều đã được chuyển đổi đại từ nhân xưng chỉ chủ thể quyền từ “công dân” sang “mọi người” hoặc “không ai”. Sự thay đổi này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với nhóm quyền dân sự, bởi lẽ đây được xác định là nhóm quyền thiêng liêng, tự nhiên, bẩm sinh dành cho tất cả mọi người. Do đó, nó không thể bị hạn chế về chủ thể thụ hưởng quyền.

3. Những hạn chế của Dự thảo về nhóm quyền dân sự so với  Hiến pháp hiện hành

Dự thảo đã có những sửa đổi, bổ sung tiến bộ giúp hoàn thiện dần các quy định về quyền dân sự, tuy nhiên sự sửa đổi, bổ sung đó vẫn chưa triệt để, vẫn còn nhiều điểm hạn chế ít nhiều tác động đến việc hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân như sau:

  Thứ nhất, chưa có sự  nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ, vẫn còn nhiều điều khoản sử dụng cụm từ “theo pháp luật”, “do pháp luật quy định” hoặc “theo quy định của pháp luật”, cụ thể như sau:

   Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73): 2…Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định.

   Điều 24 (giữ nguyên Điều 68): Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

   Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69): Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

 Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 74): 2…Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nhiều quyền dân sự quy định còn thiếu tính chặt chẽ (đặc biệt đối với các quyền mới) chẳng hạn như quy định tại Điều 21 của Dự thảo về quyền sống: “Mọi người có quyền sống” lại quy định một cách quá sơ sài, mặc dù việc đưa quyền này vào Dự thảo Hiến pháp là hoàn toàn tiến bộ, đáng ghi nhận. Dẫu biết, quyền sống là quyền tự nhiên, là quyền cố hữu của mọi con người nhưng không có nghĩa là không bị giới hạn. Đối với các tội phạm nguy hiểm cần phải loại bỏ vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội thì hình phạt tử hình vẫn được áp dụng. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở nội dung “Mọi người có quyền sống” như Điều 21 của Dự thảo là không phù hợp với thực tiễn chính sách hình sự ở nước ta cũng như nội dung của công ước về quyền dân sự, chính trị 1966.

Thứ ba, còn tồn tại nhiều quyền quy định chưa có tính logic (ví dụ như: Điều 23 Dự thảo“…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định”), mang tính chất “ban phát”, “đề phòng” của Nhà nước đối với công dân thường thể hiện dưới cấu trúc: “công dân có quyền…” hoặc “mọi người có quyền” (như: Điều 22 Dự thảo “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm..”; Điều 23 Dự thảo: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình…2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác…”; Điều 25 Dự thảo “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật…”).

4. Những kiến nghị cụ thể, sửa đổi, bổ sung một số quyền dân sự của Dự thảo

4.1. Quyền đi lại và cư trú

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68) Dự thảo quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”.

Thứ nhất, theo chúng tôi, nên xác định đây không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền con người. Bởi lẽ, vấn đề đi lại và cư trú là những nội hàm quan trọng không thể thiếu thuộc về bản năng di chuyển để sinh tồn của loài người. Do đó, đối tượng thụ hưởng quyền này là không thể giới hạn. Mặt khác, việc mở rộng phạm vi quyền con người hiện nay là phù hợp với xu thế hội nhập của thế giới.

Thứ hai, thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” bằng “theo quy định của luật” vì quy định như Dự thảo sẽ không đảm bảo được sự tương thích với các quy định tại Điều 15 và 20 (Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định). Mặt khác, các quy định như Dự thảo sẽ dẫn đến tình trạng, các quyền cơ bản của con người của công dân sẽ bị xâm phạm bởi chính các chủ thể có thẩm quyền khi ban hành các văn bản pháp luật tùy tiện, cản trở, hạn chế, thu hẹp quyền con người, quyền công dân.

Vì vậy, điều này cần được thể hiện như sau:

Điều 24…

Mọi người có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài theo luật định. Công dân Việt Nam có quyền từ nước ngoài về nước theo quy định của luật”.

4.2. Quyền về hôn nhân và gia đình

Điều 39 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 64) quy định:

1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Theo chúng tôi, cần xác định lại chủ thể của quyền kết hôn và ly hôn bởi lẽ:

 Thứ nhất, theo quan niệm truyền thống, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống, còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Vì lẽ đó, gốc rễ để hình thành nên nền tảng của một gia đình, chính là sự kết hợp tình yêu giữa nam và nữ (đây được xem là hôn nhân dị tính –  giữa hai người khác giới tính với nhau) Tuy nhiên hiện nay, thế giới còn biết đến hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới (gọi tắt là cộng đồng LGBT). Thực tế, mọi người sinh ra, không ai được tự do lựa chọn giới tính cho chính mình vì mỗi một cá thể người là một sản phẩm của tạo hóa tạc ra. Do đó, sợi dây kết nối tình cảm của con người với nhau cũng xuất phát từ bản ngã tự nhiên ấy. Việc thừa nhận hôn nhân của những người thuộc cộng đồng LGTBT không làm xói mòn hay phá vỡ các giá trị của hôn nhân truyền thống cũng như không gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của các nhóm công dân khác mà ngược lại còn làm tăng thêm tính nhân văn, tăng thêm các giá trị thuộc về quyền con người.

Thứ hai, hiện nay, việc thừa nhận hôn nhân của những người đồng tính, song tính và chuyển giới không phải là câu chuyện đi ngược lại với quy luật của tạo hóa mà chính là con người đang sống đúng với sự ban tặng của tạo hóa. Vì vậy, dường như thế giới đã có cái nhìn thiện cảm và cởi mở hơn đối với hôn nhân của cộng đồng LGBT. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hiệp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục như thế nào (tháng 6/2011), chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT (tháng 3/2012)[1].., xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại. Không những vậy, nhiều quốc gia hiện nay như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Thụy Điển,… đã thừa nhận hôn nhân của LGBT. Điều này cho thấy, động thái tiếp nhận tích cực của nhân loại đối với các vấn đề liên quan đến giới tính và bản dạng giới.

Thứ ba, về tính thống nhất với các quy định khác của Dự thảo Hiến pháp: Dưới góc độ này, các nội dung quy định tại Điều 39 không thống nhất với các Điều 15 và Điều 17của dự thảo. Điều 15 và 17 đã khẳng định ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm, chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy, tất cả các quyền của con người, quyền công dân phải được bảo đảm và bình đẳng, không ai bị phân biệt đối xử và chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp (không có trường hợp do xu hướng tính dục hay bản dạng giới[2]). Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 và Điều 39 đã giới hạn một số quyền của cộng đồng LGBT dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, không đảm bảo tính bình đẳng, nhân văn của Hiến pháp, pháp luật, không có tác dụng trong việc bảo vệ cộng đồng LGBT. Nếu không điều chỉnh quy định Điều 39 sẽ làm giảm tính thống nhất của Dự thảo Hiến pháp.

Do đó, theo chúng tôi, Điều này nên được sửa đổi như sau:

Thay cụm từ “nam, nữ” bằng “mọi người”; bỏ cụm từ “một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”; thêm mục 3 để phù hợp hơn với truyền thống tốt đẹp cùa gia đình Việt Nam.

 “1. Mọi người có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.

 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

3. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.” (more…)

Advertisements

Lại Luật trưng cầu ý dân

Tháng Sáu 6, 2013

Nên nhớ là Luật này và Luật tiếp cận thông tin đã từng đổ vỡ một lần rồi đấy, không khéo lại lặp lại thôi ^^

Trưng cầu ý dân: Lá phiếu của dân là quyết định cuối cùng

 “Đưa ra trưng cầu ý dân một vấn đề quan trọng đồng nghĩa với việc các cơ quan nhà nước trao trả lại quyền lực đã được ủy nhiệm cho chủ thể thực sự của quyền lực là nhân dân. Khi đó, quyết định của người dân là quyết định cuối cùng”…

Đây là nguyên tắc được “đặt hàng” cho cơ quan soạn thảo luật Trưng cầu ý dân – Hội Luật gia Việt Nam. Ngày 4/6, Hội tổ chức hội thảo khoa học “Trưng cầu ý dân- những vấn đề lý luận và thực tiễn” – cuộc hội thảo khoa học đầu tiên được tổ chức nhằm triển khai kế hoạch nghiên cứu, xây dựng Luật trưng cầu ý dân mà Hội Luật gia được giao chủ trì biên soạn.

Lá phiếu có quyền tối hậu
Các nhà khoa học, chuyên gia luật học hàng đầu tham dự hội thảo khởi thảo luật Trưng cầu ý dân.
Các nhà khoa học, chuyên gia luật học hàng đầu tham dự hội thảo khởi thảo luật Trưng cầu ý dân.

GS.TSKH Đào Trí Úc (ĐH Quốc gia Hà Nội) nêu rõ, trưng cầu ý dân là một chế định xã hội có tính chất như một phương pháp khảo sát xã hội học nhằm thu thập thông tin phản ánh quan điểm, ý chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân về những vấn đề có tính cơ bản, phổ biến phức tạp, được xã hội quan tâm, để phân tích, đánh giá và làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quyết định, chủ trương, biện pháp cụ thể. Tuy nhiên, mức độ thực hiện chế định dân chủ trực tiếp trong việc trưng cầu ý dân cao hơn nhiều.

Đây là hình thức lấy ý kiến đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước hoặc của từng địa phương thông qua hình thức bỏ phiếu trực tiếp. Thông qua hoạt động này, người dân đến tuổi trưởng thành, với tư cách công dân của mình thể hiện chính kiến một cách cụ thể trên những vấn đề cần có quyết định dứt khoát sau khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã làm hết sức mình nhưng chưa tìm được giải pháp thỏa đáng.

Qua đó, cử tri có quyền và có dịp bày tỏ quan điểm của mình, và có điều kiện, kiểm tra, giám sát trực tiếp việc thực hiện ý kiến trưng cầu, được cung cấp đầy đủ thông tin về các vấn đề và sự kiện có liên quan…

Việc xây dựng luật Trưng cầu ý dân, theo đó, sẽ tạo thêm cơ sở pháp lý để hiện thực hóa chế định dân chủ trực tiếp, là một trong những công cụ mở rộng dân chủ, tạo sự đồng thuận xã hội cần thiết cho quá trình phát triển của đất nước.

Với những e ngại về khả năng không kiểm soát được khi người dân với lá phiếu biểu quyết của mình có quyền tối hậu trong việc quyết định các vấn đề phức tạp hay lo lắng trình độ dân trí chưa đủ để mỗi người dân nắm bắt được thực chất các vấn đề hệ trọng của đất nước để quyết định, ông Úc cho rằng những quan ngại này có cơ sở. Tuy nhiên, hơn tất cả, GS Úc khẳng định, bản thân việc trưng cầu ý dân không chỉ là một cuộc vận động chính trị mà có quy trình chặt chẽ đảm bảo nhà nước và xã hội có khả năng giải quyết, kiểm soát tình hình phức tạp, nếu có.

Bàn đến cách thức và thủ tục tổ chức trưng cầu ý dân như thế nào để bảo đảm được tính chính xác của kết quả bỏ phiếu, phản ánh được đúng đắn ý nguyện của nhân dân, ThS.Đinh Thế Hưng (Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, một cuộc trưng cầu dân ý sơ sài, thiếu sự chuẩn bị và không chặt chẽ về mặt thủ tục sẽ khiến người dân thờ ơ, bỏ phiếu cho xong việc.

Ngược lại, cuộc trưng cầu dân ý quá rườm rà và phức tạp về thủ tục không những làm giảm đi tính kịp thời của quyết định mà nó còn mất đi ý nghĩa của trưng cầu dân ý, đồng thời là rào cản cho nhân dân thực hiện quyền lực của mình.

Tính tối cao của quyền lực nhân dân

PGS.TS Trương Thị Hồng Hà (Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) đề xuất, Luật Trưng cầu ý dân được xây dựng cần được đảm bảo là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân theo pháp luật, tránh khuynh hướng hình thức trong việc trưng cầu ý dân. Đồng thời, cũng cần thiết kế cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong trưng cầu dân ý, đảm bảo kết quả trưng cầu ý dân mang tính khách quan, công khai và chính xác; ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật, thiếu ý thức trách nhiệm trong việc tổ chức trưng cầu ý dân.

ThS.Ngô Trung Thành (Vụ trưởng Vụ pháp luật – Văn phòng Quốc hội) nêu thực tế, Hiến pháp hiện hành đã quy định về trưng cầu ý dân như một quyền cơ bản của công dân nhưng lại trao thẩm quyền quyết định đối với mọi công việc của nhà nước cho các cơ quan như Quốc hội, UB Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ… Hơn nữa, Hiến pháp cũng không quy định rõ hiệu lực pháp lý của kết quả trưng cầu ý dân nên quy định mãi vẫn “treo” đó.

Ông Thành đặt vấn đề, luật Trưng cầu ý dân cần thiết kế trao quyền quyết định việc này cho Quốc hội. Như vậy, Quốc hội có toàn quyền quyết định đưa bất kỳ vấn đề nào đó ra trưng cầu ý dân mà không có giới hạn nào. Mặc dù các công việc đã được giao cho các cơ quan nhà nước nhưng Quốc hội khi thấy một vấn đề quan trọng phải đưa ra trưng cầu ý dân thì việc này đồng nghĩa với việc các cơ quan nhà nước trao trả lại quyền lực đã được ủy nhiệm cho chủ thể thực sự của quyền lực là nhân dân. Khi đó, quyết định của người dân là quyết định cuối cùng. Kết quả trưng cầu ý dân phản ánh tính tối cao quyền lực của nhân dân nên kết quả trưng cầu ý dân không cần phải phê chuẩn mà có giá trị thi hành.

GS.TSKH Đào Trí Úc nêu kinh nghiệm ở các nước, việc trưng cầu ý dân có nhiều mức độ: trưng cầu có tính chất quyết định, trưng cầu có tính tham khảo, sáng kiến của nhân dân về việc giải quyết một vấn đề nào đó; khiếu nại về vụ, việc cụ thể… Trong số các hình thức đó của cơ chế dân chủ trực tiếp thì trưng cầu ý dân có tính quyết định là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất, bởi vì nó bảo đảm tính hiệu lực tức thời của kết quả biểu quyết.

Ông Úc đề nghị chọn trưng cầu ý dân có tính quyết định là đối tượng điều chỉnh của luật Trưng cầu ý dân với quy định “kết quả trưng cầu ý dân có hiệu lực kể từ ngày công bố, không cần sự phê chuẩn của bất cứ cơ quan nhà nước nào”.

Đại biểu cũng nhấn mạnh tính bắt buộc thi hành của kết quả trưng cầu ý dân. Cụ thể, kết quả biểu quyết trưng cầu ý dân có hiệu lực thi hành và phải được cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng; mọi người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Chủ tịch Hội Luật gia Phạm Quốc Anh cho biết, Hội đã được UB Thường vụ “đặt hàng” soạn thảo dự luật này sớm nhất có thể, để sẵn sàng trình Quốc hội xem xét, thông qua trong 2 kỳ họp năm sau (2014) dù luật này không có trong chương trình chính thức của kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh khóa này.

NQ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011

Tháng Tám 16, 2011

QUỐC HỘI

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Căn cứ Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 83/2007/QH11;

Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12;

Sau khi xem xét Tờ trình số 08/TTr-UBTVQH13 ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1

Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 như sau:

1. Bổ sung dự thảo Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào Chương trình thông qua tại kỳ họp thứ nhất;

2. Chuyển dự án Luật tài nguyên nước (sửa đổi), Luật giáo dục đại học từ Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ nhất sang Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2;

3. Bổ sung dự án Luật cơ yếu, Luật biển Việt Nam vào Chương trình thông qua tại kỳ họp 2;

4. Chuyển dự án Luật hợp tác xã (sửa đổi) từ Chương trình thông qua tại kỳ họp thứ 2, sang Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012;

5. Bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế, Luật phòng, chống rửa tiền vào Chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2;

6. Bổ sung dự án Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011. (more…)

HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐCS VN VỀ HOÀN THIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

Tháng Bảy 24, 2011

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

Nhận thức lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình phát triển lâu dài, bền bỉ và gắn chặt với lịch sử cách mạng và thời kỳ thể hiện tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là giai đoạn từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay. Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1994). Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 – 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 – 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề rất mới ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng cũng chỉ phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. (more…)

TỔNG QUAN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÀNH TƯ PHÁP THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Tháng Tư 22, 2011

1. Đánh giá chung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp

Thứ nhất, hiện nay Bộ Tư pháp đã được giao nhiều nhiệm vụ mới, mở rộng đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tư pháp. Những năm qua, đặc biệt là giai đoạn sau khi ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 và nhất là Nghị định số 93/2008/NĐ -CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban hành như Luật Tương trợ tư pháp, Luật luật sư, Luật Công chứng, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Thi hành án dân sự, Luật nuôi con nuôi, Luật Bồi thường nhà nước, Nghị định số 158/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và đăng ký hộ tịch,… Nghị định 93/2008/NĐ-CP đã cụ thể hóa đường lối, quan điểm chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 và Nghị định số 178/2007/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và các quy định pháp luật hiện hành và xác định rõ chức năng, đồng thời mở rộng và tăng cường nhiều nhiệm vụ đối với Bộ Tư pháp trước yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội đặt ra. So với các giai đoạn trước, theo quy định hiện hành, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp có những điểm mới như sau:
– Chức năng mới: giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thi hành pháp luật (khoản 6, điều 2, Nghị định số 93/2008/NĐ-CP). Đây là cơ hội, điều kiện đản bảo để Bộ Tư pháp tham mưu, giúp Chính phủ một cách đầy đủ và toàn diện về công tác pháp luật bao gồm từ xây dựng, thẩm định, kiểm tra đến theo dõi thi hành pháp luật. Theo đó, với chức năng này, Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ phải thực hiện, đó là: theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương.

(more…)

THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, SỬ DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THỂ CHẾ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI, QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI – ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang*

 

1. Khái quát về cộng đồng dân cư và thể chế xã hội

1.1. Khái niệm cộng đồng dân cư và đặc điểm

Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng người đó có những kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng dân cư là một dạng của cộng đồng. Hiểu một cách đơn giản nhất, cộng đồng dân như là nhiều người, nhiều nhà, gia đình, cá thể, nhóm cùng sống trong một khoảng không gian hoặc là những người cùng sinh sống trong một khu vực lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính họ gắn bó, liên kết cùng nhau thực hiện lợi ích, nghĩa vụ,Khái niệm cộng đồng dân cư xuất hiện đồng thời với sự ra đời của một quốc gia, dân tộc, hay nói xa xưa hơn là của cả lịch sử loài người. Cộng đồng dân cư có thể tồn tại dưới các hình thức sau đây:

– Các cộng đồng theo khu vực địa lý: ví dụ như cộng đồng dân cư Bắc, Trung, Nam.

– Các cộng đồng dân cư theo vùng miền đặc thù: đô thị, nông thôn, dân tộc, miền núi,…

– Cộng đồng dân cư ở khu vực giao thoa: giao nhau giữa hai khu vực, vùng, miền,…

Đặc điểm của cộng đồng dân cư thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, cộng đồng dân cư mang tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện các nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi của công dân, dân tộc.

Thứ hai, nói đến cộng đồng dân cư là nói đến một tập thể gắn kết cao, mang tính chất xã hội nhiều hơn so với các loại cộng đồng khác.

Thứ ba, về mặt kinh tế, cộng đồng dân cư là một tập hợp của nhiều thành phần kinh tế.

1.2. Khái niệm thể chế xã hội và đặc điểm

Kinh tế học thể chế mới không chỉ khảo sát trạng thái cân bằng mà tìm hiểu xem các thể chế nào tác động thuận lợi tới ổn định kinh tế và tăng trưởng kinh tế. Trong khi mở rộng kiến thức khoa học, đổi mới công nghệ tạo ra những cơ hội mới, song vấn đề là làm sao thực hiện những cơ hội đó với chi phí giao dịch thấp nhất trong một thế giới bất định và với nhận thức không hoàn hảo. Chính vì vậy mà kinh tế học thể chế mới nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thể chế chính thức, thể chế phi chính thức.

(more…)

THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Một 2, 2010

Trương Hồng Quang


I. NÔNG THÔN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm nông thôn

Khác với vấn đề đô thị, nông thôn là một hiện tượng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của nước Việt. Các chặng đường lịch sử đã chứng kiến những biến đổi cũng như các cuộc cách mạng lịch sử liên quan, xuất phát từ nông thôn. Tại Việt Nam, nông thôn dường như mang những nét rất đặc thù so với các nước khác trên thế giới, thể hiện ở văn hóa làng xã và các đặc điểm xã hội tiềm ẩn trong mỗi chặng đường phát triển. Nếu như khái niệm đô thị được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì khái niệm nông thôn dường như được quan tâm một cách khiêm tốn hơn. Các nghiên cứu từ trước đến nay đã cho thấy một điều rằng, các nhìn nhận về nông thôn luôn đi theo hướng xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm nông thôn.

Theo quan điểm chung, nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân sư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị[1]. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Ở Việt Nam, cho đến năm 2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5%. Con số đó những năm trước còn lớn hơn nhiều. Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội. Ngay cả những Việt kiều sống ở các nước văn minh, tiên tiến nhất thế giới, vẫn giữ nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam.

(more…)