Archive for the ‘Xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp’ category

THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

Tháng Mười Một 2, 2010


Trương Hồng Quang


I. ĐÔ THỊ VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

1. Khái lược những vấn đề chung về đô thị

1.1. Một số khái niệm

– Tư duy về đô thị.

Đô thị là biểu trưng của nền văn minh nhân loại[1]. Và chưa bao giờ trong lịch sử loài người, các thành phố lại có vị trí quan trọng tuyệt đối như hôm nay trong việc tạo dựng và phát triển các giá trị nhân loại. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi đô thị trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Từ xa xưa, các nền văn minh ở cả phương Đông và phương Tây đã có những nhận thức về tổ chức đô thị nhằm đạt được những mục đích về tâm linh, quyền lực hay phòng thủ. Thế kỷ 4 trước Công Nguyên, triết gia Hy Lạp Aristotle bắt đầu nhìn nhận đô thị từ góc độ dân sinh và tổ chức xã hội, đặt nền móng đầu tiên cho ngành quy hoạch hiện đại. Trong tác phẩm The Politics (Chính trị học), ông miêu tả mô hình một cộng đồng lý tưởng có quy mô dân số khoảng 5000 người – “đủ nhỏ để tiếng nói của mỗi cá nhân có thể được lắng nghe bởi toàn bộ cộng đồng, và đủ lớn để có thể tự cung, tự cấp[2]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đô thị chỉ thực sự bùng nổ vào thế kỷ 19 khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra tại nước Anh cùng với sự xuất hiện của các thành phố công nghiệp chật chội và ô nhiễm. Nhà vô sản Federic Engles đã quan sát những khu ổ chuột của công nhân ở Manchester và hoàn thành những trang viết đầu tiên của ngành Xã hội học đô thị. Ebenezer Howard, một thương gia và nhà hoạt động xã hội, thì đề xuất mô hình đô thị vệ tinh thông qua việc xây dựng các thành phố vườn bao quanh bởi các vành đai xanh và liên kết với đô thị trung tâm bằng hệ thống đường sắt[3]. Vào những năm 1930, ngành Xã hội học đô thị ra đời khi những các nhà xã hội học ở trường Đại học Chicago bàng hoàng trước những dòng người nhập cư vào thành phố và những biến đổi trong đời sống đô thị và bắt tay vào nghiên cứu những sự biến đổi này tại Chicago. Đến những năm 60, 70, khi xã hội phương Tây bắt đầu bước sang giai đoạn hậu hiện đại, các tác phẩm của nhà báo Jane Jacob, nhà nghiên cứu Kevin Lynch và kiến trúc sư theo trường phái cổ điển Léon Krier đã đặt đô thị dưới góc nhìn nhân bản hơn và nhấn mạnh yếu tố con người thay vì công năng của trường phái Le Corbusier hay trường phái quy hoạch Victoria từ thế kỷ 19.

(more…)

Advertisements

Thể chế xã hội trong lĩnh vực dân tộc tại Việt Nam

Tháng Mười Một 2, 2010

THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang

 

I. DÂN TỘC VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM

1. Khái niệm, đặc điểm, cơ cấu các dân tộc anh em ở nước ta hiện nay

Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện. Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành.

Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Loại hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm  lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán.

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất[1]:

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người.

Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích  chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa thứ hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia – dân tộc. Theo nghĩa này, có thể nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa,…

Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc. Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất[2]. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ. Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.

+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm…

+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc). Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc.

(more…)

Hệ thống quan điểm của Đảng CSVN về hoàn thiện hoạt động tư pháp

Tháng Mười Một 2, 2010

Trương Hồng Quang

Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

 

Nhận thức lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình phát triển lâu dài, bền bỉ và gắn chặt với lịch sử cách mạng và thời kỳ thể hiện tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là giai đoạn từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay. Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1994). Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 – 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 – 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 – 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề rất mới ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng cũng chỉ phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.

Tiếp nối những thành công của Đại hội Đảng lần thứ X được tổ chức từ 18 đến 25 tháng 4 năm 2006, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, cải cách tư pháp và các hoạt động tư pháp được xem là một trong những hoạt động quan trọng được quan tâm hàng đầu hiện nay. Bài viết sau đây sẽ nhìn nhận lại hệ thống quan điểm của Đảng về hoàn thiện các hoạt động tư pháp qua các thời kỳ đáp ứng nhu cầu xây dựng văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI sắp diễn ra.

Thứ nhất, từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội Đảng VII (1991). Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tập trung vào lĩnh vực kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý, pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng. (more…)