DIỄN ĐÀN KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chuyên trang này được lập ra để xây dựng và tạo lập một môi trường trao đổi, thảo luận kỹ năng nghiên cứu khoa học (chọn đề tài, tìm và xử lí tài liệu, viết, viết bài báo chuyên ngành, đề tài, hội thảo,…). Đây cũng chính là kĩ năng mà hầu hết Sinh viên khi ngồi trên ghế trường ĐH còn thiếu và yếu.  Tác giả website hy vọng bạn đọc, đặc biệt là các bạn Sinh viên sẽ cùng nhau thảo luận, chia sẻ những kinh nghiệm cũng như thắc mắc của bản thân để cùng nhau tiến bộ.

Advertisements

26 phản hồi trên “DIỄN ĐÀN KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

  1. Mr.PigLet Says:

    Mọi người chia sẻ và đặt câu hỏi thắc mắc tại đây nhé 🙂

  2. nebmai Says:

    sư phụ iu, giúp em tìm bộ luật dân sự pháp năm 1804 bằng tiếng Việt với, cả dân luật trung kì và nam kì nữa (ko phải bộ nam kì năm 1972 đâu ná)

  3. Mr.PigLet Says:

    Đây là diễn đàn trao đổi kĩ năng chứ không phải chỗ nhờ kiếm tài liệu hộ. Anyway, vi là cm đầu tiên nên có hướng dẫn:

    1. B:DS Pháp năm 1804 bản tiếng việt có bán ở Nhà sách Đông Tây.

    2. Dân Luật Trung Kì, Nam Kì xin mời lên Thư viện Quốc gia nhé

    🙂

  4. nebmai Says:

    Thax nhiều nhiều,
    nhưng mà ở thư viện quốc gia không có 2 bộ dân luật đó
    dân luật Pháp năm 1804 thì mai đi kiếm
    Cí nì gọi là gợi mở kĩ năng tìm tài liệu mừ

  5. Mr.PigLet Says:

    Có đấy.
    Thế thì đừng có nói từ “kiếm hộ” nhé 😐

  6. nebmai Says:

    em dùng từ tìm hộ mà có phải là kiếm hộ đâu mà trích nguyên văn cho vào ” “.
    em tìm mãi rùi ở TVQG ko có, ở nhà sách đông tây lại càng ko có.
    đấy tìm tài liệu là một kĩ năng khó chứ, nhưng mà em đành đọc dân luật napoleon bằng E vậy, còn dân luật trung kì và nam kì bâyh vẫn chưa tìm được.

  7. Mr.PigLet Says:

    cũng như nhau cả thôi.
    Nó còn phụ thuộc vào độ may mắn và và nhận thức về cái gọi là “tìm tài liệu” nữa 🙂

  8. nebmai Says:

    suy ra một điều là:
    tìm tài liệu là một kĩ năng quan trọng ko thể thiếu, nhưng cũng chỉ phụ thuộc vào độ may mắn mà thôi.

  9. Mr.PigLet Says:

    đây ko phải chỗ nói linh tinh 😐

  10. boconganh Says:

    em muon lam de tai ve quyen an tu nhung moi bat dau nen khong biet lam the nao nua. anh chi co the giup em khong? em muon tim quy dinh cu the trong van ban phap luat cua Ha Lan, Bi, Thuy Si va bang Oregon cua My

  11. bui kim oanh Says:

    thank you very much!!!!, mot blog rat huu dung….

  12. Mr.PigLet Says:

    Có lẽ các bạn sinh viên rất băn khoăn khi chọn đề tài NCKH để tham gia Cuộc thi Sinh viên NCKH hàng năm. Ai cũng muốn làm sao cho đề tài nổi bật, có tài liệu để viết, hấp dẫn người đọc và đạt giải. Xin có một số lời khuyên như sau:

    1. Tính thời sự, thực tiễn phải được đặt lên hàng đầu khi tham gia một cuộc thi có tính cạnh tranh cao như Cuộc thi SV NCKH. Có thể là vấn đề đang nóng trong giai đoạn đó hoặc thời điểm mà bạn làm đề tài hoặc bạn dự đoán là sẽ sôi động trong tương lai gần. Để có được những đề tài này bạn nên:

    – Hay theo dõi thực tiễn cuộc sống, xã hội hiện nay đang có những vấn đề nào nóng, được dư luận xã hội quan tâm (xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học,…). Sau đó hãy quay lại nhìn nhận chúng dưới góc độ pháp luật, xem xem có thể hình thành nên một đề tài nghiên cứu hay không? Ví dụ như: hiếp dâm người chuyển giới, tài sản ảo trong game online,…

    – Xem Chương trình xây dựng Luật hàng năm, của mỗi nhiệm kỳ Quốc hội để biết được trong những năm tới VN sẽ chú trọng những mảng nào, từ đó xác định được vấn đề nghiên cứu.

    2. Không nên chọn những vấn đề quá nhỏ, quá hẹp sẽ khó viết, khó đạt được sự hấp dẫn người đọc. Nên biết khái quát vấn đề lên thành đề tài nghiên cứu. Ví dụ như nếu như bạn chỉ nghiên cứu quyền về hình ảnh cá nhân sẽ không hay bằng việc nghiên cứu sửa đổi các nhận thức và hệ thống cấu trúc quyền nhân thân nhằm góp phần sửa đổi Bộ Luật dân sự,…

    3. Nên mạnh dạn chọn những vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều để có thể khám phá thực sự. Thực tế là đối với đề tài NCKH SV thường được chấm theo ý tưởng là chủ yếu chứ chưa quá yêu cầu cao khả năng viết lách phải chuyên nghiệp. Bên cạnh đó chú ý những mảng liên quan đến cuộc sống, không có trong các môn học của trường như: tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật, quản lí NN,…

    4. Tránh chọn những đề tài thuần lí luận.

    5. Tránh đặt tên đề tài theo lối mòn kiểu như: Hoàn thiện PL về…., NHững vấn đề LL và TT về,… NHững vấn đề pháp lý về…, Xây dựng và hoàn thiện Pl…

    Chúc may mắn!

  13. Mr.PigLet Says:

    1.1. Vai trò của tư liệu

     Giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện đề tài

     Giúp tác giả đánh giá một cách toàn diện, đa dạng vấn đề nghiên cứu

     Thể hiện kỹ năng tìm, phân tích, tổng hợp và xử lý tài liệu của người nghiên cứu khoa học

     Có tác dụng hai mặt (giúp người viết hoàn thành đề tài nhưng nếu lạm dụng và quá phụ thuộc sẽ gây tác dụng ngược lại)

    1.2. Đặc điểm tư liệu trong Khoa học pháp lý

     Bao gồm: Văn bản pháp luật, các Tạp chí Khoa học, đề tài, công trình Nghiên cứu khoa học, websites Khoa học pháp lý,…

     Đặc thù nghiên cứu ngành luật thiên về định tính hơn định lượng, số liệu thực tế của ngành luật thường là những vụ việc hơn là những số liệu thống kê

     Số liệu thực tế trong khoa học pháp lý thường vụn vặt, khó xử lý

     Có quá nhiều trích dẫn của các tác giả trong và ngoài nước.

    1.3. Một số nhược điểm

     Hầu hết Sinh viên chưa có được kỹ năng tốt

     Tiếp nhận tư liệu một cách máy móc, không pt, đg và đưa ra quan điểm riêng

     Quá phụ thuộc vào tài liệu, không có nhiều tài liệu không hoàn thành được đề tài

     Chưa tìm đúng nguồn tài liệu, không chọn lọc được trong “rừng” tài liệu

     Chưa mạnh dạn trong việc tìm, tiếp cận tư liệu

    1.4. Một số kỹ năng

     Nên tìm hiểu PP lập, pt, đánh giá khảo sát trước khi tìm tư liệu

     Đi từ những nguồn tài liệu gần nhất đến xa nhất, quen thuộc nhất đến lạ hơn.

     Không nên thu thập tư liệu quá thiếu chiều sâu hay thiếu chiều rộng

     Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Giá trị số liệu thống kê cao hơn giá trị lý luận

     Nên có sự tư vấn của GVHD

     Nên sử dụng hiệu quả công cụ ngoại ngữ

    1.5. Một số chỉ dẫn

     Thư viện ĐHLHN, TV QG, BTP, Viện NN & PL
     Tạp chí Luật học, ĐHLHN
     Tạp chí NN&PL, Viện KHXHVN
     Tạp chí NCLP, VPQH, nclp.org.vn
     Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
     Tạp chí KHPL, HCMLU, hcmulaw.edu.vn
     Website Sinhvienluat.vn
     Diễn đàn luathoc.vn
     Địa chỉ quen thuộc: google.com
     Luật nước ngoài: worldlii.org
     Bài báo khoa học nước ngoài: westlaw.com

    (Theo Trương Hồng Quang)

  14. Mr.PigLet Says:

    Thông thường, rất nhiều người khi viết 1 đề tài (kể cả khóa luận, luận văn, luận án) đều làm theo cấu trúc: Lý luận- Thực trạng-Giải pháp. Tuy nhiên theo mình đây là một lối mòn bởi: Cách trình bày như vậy giúp người đọc nắm vấn đề một cách có hệ thống.

    Tuy nhiên, điểm yếu của cách trình bày này là phần “cơ sở lý luận” dễ trở nên quá dài hoặc quá mỏng. Nói quá ít thì thiếu hệ thống, nói quá nhiều thì xa mục tiêu. Chương 1 của đề tài NCKH giống giáo trình hay bách khoa toàn thư hơn là công trình chuyên khảo. Trong chương 2, phần thực trạng chỉ nêu được 1 vài vướng mắc trong số các lý luận đã trình bày ở chương 1 (như vậy một số cơ sở lý luận đã nêu trở nên thừa). Vì thời gian và số chữ trong đề tài NCKH bị giới hạn, chương 3 (giải pháp) được trình bày sơ sài, không đủ chỗ để chứng minh tại sao giải pháp nêu ra lại giải quyết được vấn đề.

    Vì thế, gần đây ở các nước như Anh, Mỹ đã xuất hiện phương pháp soạn đề cương mới – đó là nêu Thực trạng trước, Lý luận-Giải pháp sau. Do mục tiêu của báo cáo NCKH không phải là để trình bày kiến thức, mà để giải quyết một vấn đề đang tranh cãi, điều đầu tiên người đọc quan tâm sẽ là “cho tôi biết vấn đề ở đâu?”

    Sau khi nhìn thấy vấn đề (thực trạng – Chương 1), thì Chương 2 mới bắt đầu phân tích các qui định của pháp luật về vấn đề đang tranh cãi. Quá trình phân tích không thể chỉ mô tả luật, mà phải giải thích nguồn gốc, nguyên nhân của các điều luật, ưu điểm và khuyết điểm của các điều luật đó. Sau đó, Chương 3 tìm nguyên nhân tại sao các qui định hiện hành không giải quyết được vấn đề đang tranh cãi.

    Chương 3 đề ra giải pháp để khắc phục, giải thích tại sao chọn giải pháp này mà không phải giải pháp khác, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của giải pháp này, thu hẹp phạm vi áp dụng của giải pháp và đề ra mục tiêu nghiên cứu trong những đề tài NCKH tiếp theo.

    Cách trình bày này khiến người đọc đi ngay vào vấn đề và lôi cuốn ngay từ đầu. Nó cũng tiết kiệm thời gian cho người làm đề tài.

  15. Mr.PigLet Says:

    Bài viết liên quan đến luật thường phải gắn liền với lý luận, và lý luận cũng chính là luật. Cho nên không thể nói là bỏ lý luận trong báo cáo khoa học nhưng bạn có thể trình bài bài viết theo hướng so sánh, biến sự lý luận theo hướng sách vở thành một bức tranh tương phản đầy sự hấp dẫn và có sức thuyết phục.
    – Thực trạng: Không phải cứ nói đền thực trạng là liệt kê hàng loạt những vấn đề ra, hay ôm một đống số liệu cho vào báo cáo. Thực trạng phải là tình hình hiện tại mà vấn đề nghiên cứu cần thay đổi, cho nên khi trình bày phải đưa ra hình ảnh sinh động có từ thực tế mà càng thực tế càng thời sự càng tốt. Những báo cáo khoa học gắn liền với một vụ án, một vụ việc của một địa phương hay một thời gian nào đó thường được đánh giá rất cao. Như vậy, chúng ta không đang trình bày thực trạng ở phần chương hai mà chúng ta đang nói về cốt lõi của vấn đề, đang chỉ ra cái mà mà pháp luật cần sửa đổi, cần điều chỉnh…Đây không phải là thực trạng đấy là cách nhìn, là quan điểm khoa học được đúc rút từ nghiên cứu.
    – Biện pháp hay giải pháp là điều quan trọng nhất trong một báo cáo khoa học. Và bài viết sẽ được đánh giá cao nhất bởi giải pháp đưa ra. Nên phần này thường được đặt ở cuối nghiên cứu. Tuy nhiên chẳng ai cấm các bạn đặt nó ở bất kỳ đâu trong một báo cáo cả. Ngay cả tại phần nói về lý luận bạn vẫn có thể đưa ra giải pháp, giải pháp chíng là sự thừa nhận những cơ sở lý luận tốt nhất, bởi lẽ mỗi quan điểm khác nhau sẽ dẫn đền một hệ thống pháp luật khác nhau…

    Cuối cùng tôi xin được nhấn một chút đến việc trình bày bảo vệ nghiên cứu trước hội đồng. Bạn viết có hay đến đâu, vấn đề có hấp dẫn đền đâu nhưng bạn không biết trình bày, thuyết phục người khác trong buổi bảo vệ thì bài viết của bạn cũng sẽ bị sụp đổ. Tôi rất thích cách trình bày bằng hệ thống sơ đồ trên máy tình, cùng rất thích cách trình bày thông qua một hình tượng độc đáo. vì dụ có bạn trình bày về sự chồng chéo, bất cập trong bộ máy nhà nước bạn đưa ra hình tượng chiếc đồng hồ, và liên tưởng đến những chiếc bánh răng trong đồng hồ đó như một guồng máy nhà nước. Nếu các bánh răng không ăn khớp nhau, bộ máy nhà nước sẽ không hoạt động tốt đươc. v..v

    Mạo phép qua mặt các anh chị đi trước nói mấy lời nho nhỏ này. Rất mong những sẻ chia này sẽ giúp ích được phần nào cho các bạn sinh viên có ý định làm nghiên cứu khoa học. Một điều mình khẳng định rằng chỉ khi nào nghiên cứu khoa học bạn mới có cách nhìn một vấn đề ở nhiều góc cạnh và có chiều sâu.

  16. Mr.PigLet Says:

    Có thể tổng hợp lại như sau:

    Về cấu trúc ba chương

    1. LL-TT-GP

    1.1. Ưu điểm:

    Tương đối phù hợp với ngành KHPL, giúp người đọc nắm vấn đề một cách hệ thống

    1.2. Nhược điểm:

    LL dễ trở nên quá dài và quá mỏng (quá ít thì thiếu hệ tống, quá nhiều thì xa mục tiêu)

    - Chương 1 giống như từ điển hơn là công trình chuyên khảo; chương 2 chỉ nêu được một số vướng mắc trong số các LL đã trình bày ở Chương 1; chương 3 sơ sài không đủ chứng minh cơ sở của GP đưa ra (giới hạn số trang).

    2.TT-LL-GP

    2.1. Uu điểm

    Đi đúng mục tiêu của đề tài là giải quyết một vấn đề chứ ko phải trình bày kiến thức. Chương 1 nêu TT, ch2 ptich các quy định PL về vấn đề đó, ko chỉ mô tả luật mà còn giải thích nguồn gốc, nguyên nhân của các điều luật, ưu, khuyết, tìm nguyên nhân tại sao những quy định đó không gquyet được vấn đề đó. Ch3 nêu GP, pt điểm mạnh yếu của GP, giới hạn phạm vi áp dụng của GP và đề ra mục tiêu nghiên cứu trong những đề tài tiếp theo  đi ngay vào vấn đề, lôi cuốn từ đầu, tiết kiệm thời gian cho người viết.

    2.2. Nhược:

    Mới, chưa dễ được chấp nhận, nhất là với những quan niệm truyền thống cũ (cho dù không có quy định cụ thể nào về PP NCKH); Không có kỹ thuật viết tốt sẽ không cân đối được ba chương…

    Một số lưu ý:

     Cấu trúc với hai chương

     Phân bổ vấn đề thành các phần nhỏ để trình bày

     Thứ tự các chương: TT – LL – GP thay cho LL – TT – GP

     Có nên quá cầu toàn về mặt lý luận ở chương 1?
    Một số lưu ý
     Không phải lúc nào “mới” cũng “tốt”
     Mỗi cách thức trình bày có ưu, nhược và đặc thù áp dụng riêng
     Nên tìm hiểu cụ thể về nội dung và đặc điểm của cách trình bày định sử dụng
     Nên nhờ GVHD tư vấn để có hướng đi đúng đắn và phù hợp

  17. Mr.PigLet Says:

    HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO SINH VIÊN

    Phòng quản lý NCKH và HTQT, ĐH Luật TP.HCM
    Người gửi: TS. Lê Nết

    Để phục vụ công tác NCKH cho sinh viên năm học này, chúng tôi xin nêu một số phương pháp NCKH sau đây làm cơ sở tham khảo. Các quan điểm trình bày dựa trên kinh nghiệm của người viết, vì thực sự chưa có qui định chính thức về phương pháp NCKH. Các sinh viên có thể chọn phương pháp khác, sao cho phù hợp với mình, miễn là đề tài giải quyết được mục tiêu đề ra và được nghiệm thu.

    Chọn đề tài

    Qua đề tài NCKH, người nghiên cứu sẽ hiểu hơn những vấn đề mình đã nhận thức, vận dụng chúng như một công cụ để tìm những kiến thức mới hơn và truyền thụ những kiến thức này cho thế hệ sau. Mặc dù việc nghiên cứu và thực hành luật pháp có những đặc thù riêng, ví dụ mọi kiến thức truyền thụ phải thuộc những nội dung nhà nước cho phép, nhưng tính phổ biến của lợi ích nghiên cứu khoa học thì không hề thay đổi.

    Điều quan trọng số một của phương hướng nghiên cứu là phải có tính thực tiễn. Kết quả nhiên cứu phải có địa chỉ ứng dụng. Để có một kết quả KHCN mới và có tính ứng dụng, người làm NCKH nên chọn đề tài thực tế, đủ hẹp để đi sâu tìm tòi, khám phá. Có đào sâu suy nghĩ mới tìm ra cái mới. Có đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc thì giải pháp đề xuất mới có tính ứng dụng. Thế nên, khi chọn đề tài, người dự định làm NCKH nên định rõ cho mình câu trả lời, chỉ một câu trả lời, và bảo vệ được câu trả lời đó trước những ý kiến phản biện. Không nên có quá nhiều câu trả lời.

    Công đoạn đầu của một quá trình nghiên cứu là quan sát. Việc quan sát có thể tiến hành thông qua đọc tài liệu của những người đi trước về lãnh vực mình quan tâm, đọc báo, quan sát những gì xã hội đang hay sẽ quan tâm. Sau đó, thu hẹp phạm vi quan sát để tìm mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu này được thể hiện qua tên đề tài.

    Tên đề tài NCKH là do người làm NCKH tự chọn, và được Hội đồng xét duyệt đề tài thông qua. Các danh mục đề tài của Khoa hay của Trường chỉ mang tính định hướng (trừ đề tài cấp Nhà nước).

    Tên đề tài luôn là một câu hỏi thường xuyên, xuyên suốt đề tài NCKH để tìm câu giải đáp. Câu hỏi đấy phải là một câu hỏi có thực trong cuộc sống, đòi hỏi phải có câu trả lời ngay, gọi là tính cấp thiết của đề tài. Vì vậy chúng ta nên xem mục III (danh mục các đề tài đã NCKH), ít nhất để biết những người đi trước đã làm NCKH về đề tài này chưa, và họ đã giải quyết đến đâu, còn phần nào chưa giải quyết. Ngoài ra, nên tìm hiểu cụ thể cơ quan nào trong xã hội có thể ứng dụng đề tài mình chọn.

    Sau đó, đề tài phải có tính khoa học, nghĩa là vấn đề mà các nhà khoa học cần được giải thích rõ ràng bằng luận cứ khoa học.

    Tìm tài liệu nghiên cứu

    Tài liệu nghiên cứu có thể đa dạng, để đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện. Thông thường, thực tiễn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tài liệu có được do khảo sát tình hình thực tế được đánh giá cao hơn tài liệu do đọc lại những tài liệu của người khác đã viết; và trong số đó thì các tài liệu có số liệu thống kê có giá trị cao hơn các tài liệu nặng về lý luận. Tuy vậy, do đặc thù nghiên cứu ngành luật thiên về định tính hơn định lượng, số liệu thực tế của ngành luật thường là những vụ việc hơn là những số liệu thống kê. Các tài liệu này có thể thu thập tại toà án, tại các sở ban ngành, hay trong quá trình khảo sát, phỏng vấn các đối tượng quan tâm. Nếu được phân tích kỹ lưỡng và có phương pháp, các tài liệu như vậy thường được đáng giá cao hơn là các trích dẫn của các tác giả lý luận trong và ngoài nước. Nhược điểm của các số liệu này là thường vụn vặt, xử lý rất khó khăn. Vì thế, người làm NCKH muốn tìm các tài liệu dạng này cần học qua một lớp về lập, phân tích và đánh giá khảo sát. Như vậy, trước khi tìm tài liệu, nên đánh giá đúng khả năng của mình, sở thích của mình để chọn cách tìm tài liệu thích hợp nhất.

    Về phương pháp nghiên cứu, có ba phương pháp thông dụng nhất: phân tích (còn gọi là diễn dịch), tổng hợp (còn gọi là qui nạp) và so sánh. Các phương pháp này có thể kết hợp, tuy nhiên để có câu trả lời tập trung và có quan điểm dứt khoát, nên chọn một phương pháp chủ đạo, và giải thích tại sao lại chọn phương pháp này mà không phải là phương pháp khác. Nhìn chung, phương pháp NCKH phụ thuộc vào mục tiêu NCKH và nguyên nhân các vướng mắc.

    Thời gian nghiên cứu phụ thuộc vào khả năng người viết NCKH. Karl Marx có thể viết bộ “Tư bản” toàn tâm toàn ý trong hơn 30 năm, nhưng một đề tài cấp bộ chỉ tối đa 2 năm, cấp trường là 6 tháng. Vì thế, nếu thời gian nghiên cứu không cho phép, nên thu hẹp phạm vi đề tài. Bắt đầu nghiên cứu bằng các nguồn của luật (văn bản pháp luật, điều ước quốc tế), các quyết định của toà án, các số liệu thống kê, sau đó mới đọc các bài báo hay quan điểm của các học giả. Điều này cho phép người đọc có cái nhìn khách quan về vấn đề, không bị ảnh hưởng bởi trường phái chủ đạo nào. Kết thúc nghiên cứu khi nhận thấy các tài liệu nghiên cứu mình đọc bắt đầu có nội dung như nhau, có thể dự đoán được. Đó là lúc bắt đầu viết NCKH. Điều cần tránh trong NCKH là thu thập tài liệu thiếu chiều sâu (quá ít tài liệu từ một nguồn) hay thiếu chiều rộng (sử dụng quá ít nguồn tài liệu). Không ai phê phán một người sử dụng “quá nhiều” tài liệu tham khảo.

    Soạn đề cương

    Thông thường, đề cương NCKH có thể bắt đầu bằng “cơ sở lý luận”, chương tiếp theo là “thực trạng”, chương cuối cùng là “giải pháp”. Cách trình bày như vậy giúp người đọc nắm vấn đề một cách có hệ thống. Tuy nhiên, điểm yếu của cách trình bày này là phần “cơ sở lý luận” dễ trở nên quá dài và quá mỏng (nói quá ít thì thiếu hệ thống, nói quá nhiều thì xa mục tiêu). Chương 1 của đề tài NCKH giống giáo trình hay bách khoa toàn thư hơn là công trình chuyên khảo. Trong chương 2, phần thực trạng chỉ nêu được 1 vài vương mắc trong số các lý luận đã trình bày ở chương 1 (như vậy một số cơ sở lý luận đã nêu trở nên thừa). Vì thời gian và số chữ trong đề tài NCKH bị giới hạn, chương 3 (giải pháp) được trình bày sơ sài, không đủ chỗ để chứng minh tại sao giải pháp nêu ra lại giải quyết được vấn đề.

    Vì thế, gần đây ở các nước như Anh, Mỹ đã xuất hiện phương pháp soạn đề cương mới – đó là nêu thực trạng trước, lý luận sau. Do mục tiêu của báo cáo NCKH không phải là để trình bày kiến thức, mà để giải quyết một vấn đề đang tranh cãi, điều đầu tiên người đọc quan tâm sẽ là “cho tôi biết vấn đề ở đâu?”

    Sau khi nhìn thấy vấn đề (thực trạng, chương 1), thì chương 2 mới bắt đầu phân tích các qui định của pháp luật về vấn đề đang tranh cãi. Quá trình phân tích không thể chỉ mô tả luật, mà phải giải thích nguồn gốc, nguyên nhân của các điều luật, ưu điểm và khuyết điểm của các điều luật đó. Sau đó, tìm nguyên nhân tại sao các qui định hiện hành không giải quyết được vấn đề đang tranh cãi.

    Chương 3 đề ra giải pháp để khắc phục, giải thích tại sao chọn giải pháp này mà không phải giải pháp khác, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của giải pháp này, thu hẹp phạm vi áp dụng của giải pháp và đề ra mục tiêu nghiên cứu trong những đề tài NCKH tiếp theo. Cách trình bày này khiến người đọc đi ngay vào vấn đề và lôi cuốn ngay từ đầu. Nó cũng tiết kiệm thời gian cho người làm đề tài.

    Viết đề cương theo trình tự như thế nào cũng đều chấp nhận được, miễn là trả lời được câu hỏi chính của đề tài. Tuy nhiên người viết nên lưu ý đến ưu điểm và khuyết điểm của mỗi cách viết. Điều cần tránh là đi lòng vòng quá lâu trước khi đi thẳng vào vấn đề chính; và việc đưa ra kết luận mà không phân tích một cách khách quan, toàn diện.

    Thông thường, viết mở đầu sẽ là phần khó nhất, vì thế không nên bắt đầu viết bằng phần mở đầu (chờ làm xong đề tài mới quay lại viết phần mở đầu). Khi viết đề tài NCKH nên đọc đề cương xem phần nào mình thấy dễ viết thì viết trước. Nếu cảm thấy khó viết quá thì hãy trao đổi với đồng nghiệp, sinh viên, diễn đạt ý tưởng của mình, sau đó viết lại thành đoạn văn. Việc trao đổi ý kiến và tham gia hội thảo cũng giúp cho người viết tìm ý tưởng dễ hơn. Việc khó viết trong NCKH là do tư tưởng bị bế tắc. Trao đổi sẽ giúp khai thông tư tưởng và viết trôi chảy hơn.

    Sau khi viết bản thảo đầu tiên, người viết có thể sẽ không hài lòng với bố cục; đừng ngần ngại sắp xếp lại, cho dù đề cương mới có khác với đề cương đề ra. Đề cương là để giải quyết mục tiêu của đề tài, chứ không phải đề tài phải viết cho đúng với đề cương ghi trong bản đăng ký NCKH.

    Viết

    Có rất nhiều cách viết báo cáo NCKH, vì thế người làm NCKH không nên ép buộc vào một cách viết “tốt nhất” (thí dụ: cơ sở lý luận – thực trạng – giải pháp). Ơ đây chỉ xin đề cập đến hai yêu cầu: (i) tập trung; và (ii) thuyết phục.

    Cách viết tập trung yêu cầu người viết NCKH phải nêu câu hỏi chính và đề xuất được hướng giải quyết ngay trong phần mở đầu, sau đó mới phân tích tại sao hướng giải quyết như vậy là cần thiết. Cần tránh trường hợp đọc đến trang 20 mà vẫn chưa hiểu người viết muốn gì. Sau khi làm người đọc tập trung vào vấn đề, từng chương cần nêu các vấn đề nhỏ. Các vấn đề nhỏ nhằm mục đích giải quyết vấn đề chính, và nên có liên hệ với nhau một cách chặt chẽ. Giải quyết dứt điểm từng vấn đề, tránh tình trạng nhắc đi nhắc lại một vấn đề đã nói từ trước. Đưa ra giải pháp cho những trường hợp đơn giản trước, sau đó phát triển để đưa ra giải pháp cho trường hợp phức tạp.

    Cách viết thuyết phục yêu cầu người viết phải (i) giới hạn điểm tranh luận, và (ii) sử dụng phép biện chứng. Để giới hạn điểm tranh luận, nên tìm nguyên nhân sâu xa của vấn đề và đề ra giải pháp, chứ không thể chỉ dừng ở nguyên nhân trực tiếp. Để sử dụng phép biện chứng, cần đặt nghi vấn cho giải pháp mình đưa ra, tự mình phản biện mình, sau đó tự mình bảo vệ giải pháp của mình chống lại những ý kiến phản biện. Vì bảo vệ một giải pháp không hề đơn giản, nên không nên nêu quá ba giải pháp cho một đề tài NCKH (các giải pháp khác nên dành cho người khác phân tích). Người đọc khó nhớ nổi nhiều hơn ba vấn đề trong một đề tài.

    Cách hành văn cần dùng ngôn ngữ viết trong luật, tránh dùng từ quá nặng như “lừa đảo, kẻ, tên, bọn …” cho dù đó là ngôn ngữ dùng trên báo chí. Hạn chế sử dụng những ngôn từ quá trang trọng hay nặng về tình cảm hơn lý trí như “nâng cao hiểu biết”, “đẩy mạnh công tác”, “quán triệt”, “cực kỳ quan trọng”. Cách viết như vậy làm người đọc cảm thấy bài NCKH không thuyết phục bằng lập luận mà bằng cảm tính. Làm NCKH khác với hô khẩu hiệu. Tránh dùng những từ không rõ ràng như “có ý kiến cho rằng …” (phải nói ý kiến của ai v.v.), hay thiếu tự tin: “có lẽ”, “có khả năng là” (trừ trường hợp thích hợp). Khi trích dẫn phải đầy đủ theo thứ tự: tên, năm xuất bản, tên bài báo, số phát hành, số trang. Việc chú thích tuỳ tiện dễ làm người đọc có cảm giác người viết NCKH không nghiêm túc với đề tài.

    Câu văn nên càng đơn giản, ngắn gọn càng tốt. Vì người đọc là hội đồng phản biện, họ không cần phải chứng minh lại các quan điểm phổ biến. Tuy nhiên, các vấn đề khó hiểu cần có dẫn chứng và phân tích.

    Sau cùng, Samuelson(1) đưa ra một số qui tắc chung có thể khiến bài NCKH trở nên hấp dẫn hơn, là:

    1. Nên có phần mở đầu lôi cuốn (như phần đầu của một bản giao hưởng);
    2. Các đề mục phải giới thiệu cụ thể nội dung chính của vấn đề sẽ trình bày;

    3. Các vụ việc phải được phân tích dựa trên hoàn cảnh cụ thể;

    4. Các vấn đề phân tích phải mở đầu bằng câu gây hứng thú cho người đọc;

    5. Câu văn phải trôi chảy, sao cho người đọc tự cảm thấy câu sau là hệ quả hiển nhiên của câu trước;

    6. Không nên “biện chứng” một vấn đề đến vô cùng, nêu ra vấn đề tới đâu, giải quyết tới đó bằng quan điểm của mình;

    7. Tôn trọng các ý kiến phản biện và phân tích chúng một cách khách quan;

    8. Sử dụng chú thích một cách thống nhất và chi tiết;

    9. Không nên kết thúc đoạn văn hay mục bằng một câu trích dẫn;

    10. Các trích dẫn càng ngắn càng tốt và phải liên quan đến mục tiêu đề tài;

    11. Mặc dù nhiều tài liệu tham khảo là tốt (xem mục 2), không nên trích dẫn quá nhiều (4-5 trích dẫn trong 1 trang), khiến cho người đọc có cảm giác người viêt chỉ biết bắt chước ý tưởng của người khác;

    12. Không viết sai chính tả; hình thức câu văn là một phần của nội dung;

    13. Bố cục hợp lý (mở đầu có độ dài 5% chiều dài bài viết, kết luận bằng 5-10% chiều dài của bài viết, độ dài của phân tích mỗi luận điểm (argument) gần bằng nhau (25-30% chiều dài của bài viết cho mỗi luận điểm). Sau khi viết, nhờ người khác đọc lại xem phần nào dài quá, nên bớt đi; và

    14. Tìm “lối ra” cho đề tài: các giải pháp đưa ra trong trường hợp nào không áp dụng được, còn vấn đề nào phải giải quyết mà đề tài chưa kịp phân tích./.

  18. Mr.PigLet Says:

    Tính mới của đề tài NCKH
    – Không nên tuyệt đối hóa tính mới, không phải hoàn toàn là vấn đề ấy chưa được nghiên cứu.

    – Một số đề tài đã được NC nhưng dưới phương diện quản lý NN, kinh tế, XHH,… còn phương diện luật học còn bỏ ngỏ

    – Một số đề tài dưới góc độ KHPL đã được nghiên cứu, công bố nhưng: nghiên cứu với góc độ khác nhau (phạm vi, giới hạn nghiên cứu,…) hay những kết quả NC đã có hiện tại không còn phù hợp với thực tiễn, cần xem xét thông qua các phương pháp tiếp cận mới (pháp nhân, hợp đồng kinh tế, dân sự,…)

    – Ở một số trường hợp, cấp độ NCKH của SV, các điểm mới của đề tài đôi khi chỉ đơn thuần là việc hệ thống lại, sắp xếp lại và phân tích những kết quả NC của các tác giả trước đó về cùng một vấn đề, trên cơ sở đó tìm ra một kết luận chính xác nhất.
    Quanlikhoahoc.HLU vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Thông Báo Nội Dung Xấu

  19. Mr.PigLet Says:

    Kỹ năng nghiên cứu khoa học là một yếu tố mà bất cứ sinh viên Đại học nào cũng cần phải có. Yếu tố này sẽ giúp ích rất nhiều cho học tập, nghiên cứu, cũng như làm việc sau này. Trong số này, chúng tôi xin giới thiệu một bài viết về Kỹ năng nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên Luật của TS. Bùi Đăng Hiếu (ĐH Luật Hà Nội). Bài viết được trình bày một cách ngắn gọn, súc tích nhưng khá đầy đủ, có trọng tâm (đây cũng là một trong những kỹ năng viết một vấn đề) và rất hữu ích.

    KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
    Dành cho sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

    TS. Bùi Đăng Hiếu
    Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo – Trường Đại học Luật Hà Nội

    1. Thế nào là nghiên cứu khoa học?

    (Qua nội dung các vấn đề được trình bày sau đây hãy Tự đặt câu hỏi – Tự trả lời!)

    2. Tại sao SV phải nghiên cứu khoa học?

     Mức độ nhận thức trong quá trình học tập của sinh viên (Bảng phân loại nhận thức của Bloom):
    + Bậc 1: Biết, hiểu
    + Bậc 2: Áp dụng để giải quyết các trường hợp thực tiễn
    + Bậc 3: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, phê phán.
    Để đạt được mức 3 thì SV phải tham gia tích cực vào quá trình thảo luận, viết báo, viết đề tài NCKH, viết khóa luận, viết luận văn tốt nghiệp.
     Tham gia NCKH là một bước tập duyệt tốt cho việc viết luận văn tốt nghiệp.
     Đề tài NCKH có thể được nâng cấp thành luận văn.
     Cơ hội rèn luyện kỹ năng nghiên cứu với sự trợ giúp của giảng viên.
     Mục đích để khi ra trường có thể thực hiện ngay được công việc nghiên cứu theo công việc được giao hoặc học lên cao học.

    3. Những nhược điểm phổ biến trong việc NCKH của sinh viên:

     Chọn đề tài một cách máy móc theo từng chế định hoặc từng bài học.
     Đề tài không mang tính thực tiễn, không đáp ứng được tính thời sự.
     Cấu trúc theo lối mòn (Lý luận – Quy định Pháp luật – Thực trạng và Kiến nghị).
     Nội dung cắt dán từ các tài liệu có sẵn.
     Lệ thuộc quá nhiều vào các quy định trong các Văn bản Pháp Luật.

    4. Xác định Đề tài nghiên cứu và định hướng nghiên cứu:

     Tính mới: Không trùng lặp hoàn toàn với các công trình khoa học trước đó.
     Tính thời sự: Xã hội hiện nay đang quan tâm, thể hiện trên TV, mạng, báo chí,…
     Tính thực tiễn: Nhằm giải quyết các hiện tượng xã hội đang diễn ra, hoặc sắp diến ra trong tương lai gần đối với đất nước hoặc 1 địa phương.
     Tính khả thi: Có thể được ứng dụng ngay để giải quyết các vấn đề đang đặt ra, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, không bị lệ thuộc vào quá nhiều điều kiện khách quan, …
     Tính hợp lý: Phải chứng minh được bằng những lý thuyết, những lập luận logic, những thông tin và số liệu thống kê, điều tra, …
     Tính ứng dụng: Có thể ứng dụng được các kiến thức được cung cấp trong quá trình học để giải quyết vấn đề.
     Tính kế thừa: Cố gắng không bắt đầu từ đầu, phải tận dụng được những kết quả có sẵn của các công trình nghiên cứu trước đó, từ đó thể hiện rằng công trình của mình là một bước tiến mới so với các công trình trước đó.
     Tính hấp dẫn và hữu ích đối với bản thân: Đề tài đó làm mình thấy lôi cuốn, phù hợp với sở thích riêng, phù hợp với công việc của mình trong tương lai.

    5. Các kiểu nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật:

     Kiểu thứ 1: Nghiên cứu lý luận đơn thuần về 1 vấn đề lý thuyết.
     Kiểu thứ 2: Khảo sát để đưa ra kết luận về thực trạng của một vấn đề xã hội có liên quan đến môn học.
     Kiểu thứ 3: Phê phán, bình luận và nêu ý kiến sửa đổi một văn bản pháp luật, một Dự thảo luật hoặc một công trình nghiên cứu trước đó.
     Kiểu thứ 4: Kết hợp nhiều mục đích.

    6. Triển khai nghiên cứu:

     Bước 1: Xác định đề tài nghiên cứu và thể loại công trình nghiên cứu của mình.
     Bước 2: Cố gắng đọc lướt tất cả các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
     Bước 3: Qua quá trình nghiên cứu (tại bước 2) cố gắng phân nhóm các quan điểm về từng vấn đề của đề tài nghiên cứu. Có thể tham khảo thêm quan điểm của nhiều thầy cô và các bạn (gặp trực tiếp hoặc thông qua giờ thảo luận)
     Bước 4: Suy nghĩ để định ra quan điểm của riêng mình.
     Bước 5: Phác thảo Đề cương. Đề cương phải được thiết kế sao cho có tính logic, phù hợp với đề tài của mình và thể hiện được ý đồ sáng tạo tổng thể của mình.
     Bước 6: Viết từng phần của công trình nghiên cứu theo Đề cương định sẵn.
     Bước 7: Quên đi tất cả những gì đã viết (1-2 tuần).
     Bước 8: Đọc lại, tự phản biện và nhờ thầy cô sửa giúp.
     Bước 9: Chỉnh sửa, hoàn thiện và nộp.
     Bước 10: Tiếp tục nghiên cứu, đọc lại và chuẩn bị cho công việc bảo vệ.

    7. Lưu ý trong quá trình viết:

     Hoàn toàn tự do trong các quan điểm khoa học.
     Hoài nghi, khắt khe và suy nghĩ đến cùng.
     Cố gắng nghiên cứu và viết liên tục, không bị gián đoạn bởi các công việc khác (mỗi ngày 1 tiếng).
     Cố gắng phân định thời gian hợp lý cho từng công đoạn.
     Biết cách tìm, đọc và phân loại tài liệu 1 cách hợp lý, khoa học.
     Không chạy theo thành tích, không lệ thuộc vào độ “hoành tráng”, không chạy theo số trang.

    8. Vai trò của giảng viên:

     Định hướng: Gợi mở các vấn đề và hướng đi hợp lý.
     Trợ giúp: Giúp tìm tài liệu, hướng dẫn phương pháp nghiên cứu, …
     Tư vấn: Giải đáp băn khoăn, chỉnh sửa sai sót, …
     Huấn luyện: Rèn luyện cho sinh viên một số kỹ năng tư duy, kỹ năng đọc, kỹ năng viết, kỹ năng phản biện, …

  20. Trà My Says:

    Đang đi tìm các đề tài tiểu luận cuối khóa lớp chính trị đang học, thế nào lại lạc vào blog của bạn, phải nói là rất ấn tượng với blog của bạn!
    Trà My Đại học Huế!

  21. Mr.PigLet Says:

    Cảm ơn bạn nhé 🙂 Chúc bạn vui nhé 🙂

  22. Minh Oanh Says:

    Rat phuc em!

    Minh Oanh

  23. letiencua Says:

    Xin chào tất cả mọi người. Em đang tìm đề tài để nghiên cứu nhưng vắt óc mãi mà ko tìm ra. Em có ý định làm đề tài ” Cây tre trong tâm thức của người Việt” không biết đề tài này có thực tiễn không và có nhiều tài liệu không mong mọi người giúp đỡ. em XIn trân thành cảm ơn

  24. Thúy Says:

    Những thông tin rất bổ ích. Cám ơn anh nhiều!

  25. hahongcam Says:

    em chào anh. anh ơi em đang tìm hiểu đề tài quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. đề tài rộng, tài liệu em tìm được không nhiều, chắc do kĩ năng kém. mong được anh chia sẻ kinh nghiệm.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s


%d bloggers like this: