Một số kết quả nghiên cứu 2014

Đã đăng Tháng Một 20, 2015 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Không phân loại

  1. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số tháng 1/2014 (tác giả)
  2. Quyền kết hôn của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tháng 02/2014 (tác giả)
  3. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 02/2014 (tác giả)
  1. Chính phủ với Hiến pháp năm 2013, Số Đặc san Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, số 3/2014 (đồng tác giả)
  1. Về quyền xác định giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, tháng 5/2014 (tác giả)
  1. Một số khía cạnh trong quan điểm về đồng tính và người đồng tính, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Học viện Khoa học xã hội, số 6/2014 (tác giả)
  2. Phân công quyền lực giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương – lý luận và thực tiễn, Số Đặc san Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, số 6/2014 (đồng tác giả)
  3. Một số vấn đề về thực tiễn thi hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Số Đặc san Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, số 7/2014 (đồng tác giả)
  4. Quyền dân sự của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới trong Phần Những quy định chung của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 10/2014 (tác giả)
  5. Phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương: những vấn đề đặt ra và hướng hoàn thiện, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 11/2014 (đồng tác giả)
  6. Hiến pháp năm 2013 và nhu cầu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người trong xây dựng nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nghề luật, Học viện Tư pháp, số 1/2015 (đồng tác giả)
Advertisements

Về quyền nhân thân của người liên giới tính và người chuyển giới

Đã đăng Tháng Một 20, 2015 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Không phân loại

Tags:

(Chinhphu.vn)Đánh giá một cách khách quan, so với các dự thảo trước đây, Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có một bước tiến bộ khi quy định thành hai phương án đối với đối tượng người chuyển giới.

Cân nhắc phẫu thuật xác định giới tính cho người dưới 18 tuổi

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có một bước tiến bộ khi quy định thành hai phương án đối với đối tượng người chuyển giới.

Tuy vậy, việc quy định hai loại quyền xác định lại giới tính và quyền của người chuyển giới trong một điều luật (Điều 40 của Dự thảo) còn khiên cưỡng. Bản thân quyền “xác định lại giới tính” là dành cho người liên giới tính (người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính, không thể định hình rõ mang giới tính nào…), còn quyền chuyển giới, phẫu thuật chuyển đổi giới tính là của người chuyển giới (sinh ra có giới tính sinh học rõ ràng nhưng có mong muốn, nhu cầu được chuyển đổi giới tính).

Cách dùng từ “xác định lại giới tính” cũng không thực sự chính xác. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông.

Chính vì vậy, người viết bài này đề nghị điều luật chỉ nên dùng cụm từ “Quyền xác định giới tính”. Bên cạnh đó, nội dung điều luật cũng nên minh định rõ quyền này được áp dụng cho người liên giới tính.

Khoản 2 Điều 40 của Dự thảo quy định “Người đại diện theo pháp luật chỉ có quyền yêu cầu xác định lại giới tính của người chưa thành niên…”. Theo ý kiến người viết, nên cân nhắc quy định việc tiến hành phẫu thuật xác định giới tính, không nên áp dụng cho đối tượng dưới 18 tuổi (chưa thành niên). Hãy để cho người đó tự quyết định về giới tính, về bản thân con người mình.

Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người liên giới tính từ bé được bố mẹ đưa đi phẫu thuật xác định giới tính nhưng sau khi lớn lên họ không hài lòng với giới tính được xác định nên đã đi phẫu thuật lại. Đây cũng là khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế về người liên giới tính, theo đó việc phẫu thuật đối với người liên giới tính chỉ nên được thực hiện khi người đó đã trưởng thành, được cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan để đưa ra một quyết định cho bản thân. Read the rest of this post »

Sách “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”

Đã đăng Tháng Bảy 6, 2014 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hình sự, Tủ sách HTQ

Sách “Người đồng tính, song tính, chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật”, Tác giả: LG. Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp), NXB. Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2014.

Cần xem lại khái niệm “hội” khi xây dựng Luật về hội

Đã đăng Tháng Sáu 14, 2014 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Bài nghiên cứu nhỏ, Human Rights, Xã hội dân sự

Nhận thức về hội ở Việt Nam hiện nay còn là đề tài gây ra nhiều tranh luận, chưa thực sự thống nhất. Trong một thời gian dài, cùng với khái niệm Xã hội dân sự, hội được coi là vấn đề khá nhạy cảm, nên chưa được nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chính vì vậy, dưới góc độ học thuật, việc nghiên cứu về hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 là điều cần thiết.
Ảnh: quyền tự do lập hội là một quyền quan trọng của nhân dân (nguồn: iSEE)
Ảnh: quyền tự do lập hội là một quyền quan trọng của nhân dân (nguồn: iSEE)

Đi tìm một khái niệm mới về hội, trong thời gian qua, các học giả, các chuyên gia pháp luật và cán bộ làm công tác hội đã tranh luận sôi nổi ở nhiều diễn đàn, đưa ra nhiều quan điểm trái chiều với những cách thức tiếp cận đa diện. Cho đến nay, ở Việt Nam, xét ở khía cạnh học thuật và pháp lý, chưa có khái niệm hội theo một cách nhìn toàn diện, thống nhất.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý đều đồng tình rằng, hội là một trong những thành tố của Xã hội dân sự. Chính vì vậy, việc nghiên cứu khái niệm về hội cũng như các vấn đề liên quan đến hội cần phải đặt trong tổng thể của một tập hợp các chủ thể xã hội dưới khái niệm chung là Xã hội dân sự; đồng thời cần xem xét quan hệ của “hội” với tư cách là một thành tố trong Xã hội dân sự với các thành tố khác. Quan sát việc tranh luận về khái niệm, định nghĩa về hội trong thời gian qua, có thể thấy rằng, việc đưa ra khái niệm về hội là công việc hết sức khó khăn, do những đặc thù như sau:

Thứ nhất, về mặt ngôn ngữ: hội là từ được quen dùng ở Việt Nam để chỉ các tổ chức quần chúng, khi mà trong các văn bản của Đảng và các sách báo xuất bản trước đây chúng ta vẫn thường thấy xuất hiện cụm từ “hội quần chúng”. Mức độ sử dụng ngôn ngữ “quen” đến mức, khó có thể sử dụng cụm từ nào mang ý nghĩa phổ biến của quốc tế để thay thế cho hội ở Việt Nam. Dịch ra tiếng Anh, hội sẽ tương đương với “Association”, nhưng khi tìm hiểu khái niệm này, người ta thấy rằng, nội hàm của hội theo cách hiểu ở Việt Nam không đồng nhất với nội hàm của khái niệm “Association”. Trong khi đó, các nước trên thế giới khi nói đến khu vực xã hội dân sự, người ta thường nhắc tới Tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, dù rằng, ở mỗi quốc gia có cách định nghĩa và diễn giải khác nhau.

Thứ hai, về cách tiếp cận khái niệm: hội được thế giới xem xét, nhìn nhận là một trong những thành tố của Xã hội dân sự trong mối quan hệ với nhà nước, thị trường. Trong khi đó, ở nước ta, hội được coi là một trong những thành tố của hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng.

Thứ ba, về yếu tố chủ quan của nhà làm luật: về ý nghĩa ngôn ngữ học, khái niệm hội đã đạt được sự thống nhất khi thể hiện trong các từ điển tiếng Việt. Nhưng khái niệm về hội mà trong thời gian qua được đưa ra xem xét, thảo luận, thực chất, là khái niệm ở khía cạnh pháp lý. Do đó, khi nhà làm luật muốn áp đặt ý chí của mình đến mức độ nào thì sẽ xuất hiện một khái niệm về hội phản ánh ý chí chủ quan ở mức độ đó. Ví dụ, khi muốn công dân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của dự thảo Luật về hội thì trong khái niệm hội sẽ xuất hiện đối tượng này; hoặc nếu nhà làm luật không muốn điều chỉnh các hội không có tư cách pháp nhân thì đối tượng này trong khái niệm hội sẽ bị loại trừ.

Qua việc nghiên cứu một số khái niệm do các tác giả Việt Nam đưa ra, có thể thấy, hội có những đặc điểm sau:

– Là tổ chức tự nguyện của quần chúng;

– Tập hợp của những người có cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích…;

– Hoạt động thường xuyên, liên tục;

– Không vì mục đích lợi nhuận;

– Mục đích hoạt động không trái với lợi ích dân tộc, tổ quốc và trong khuôn khổ pháp luật.

Với nhận thức như trên, hội theo cách hiểu của các tác giả Việt Nam không bao gồm các nhóm và tập thể tự nguyện khác do nhân dân tự nguyện bột phát, tức thời lập ra (các nhóm đó không có điều lệ, không có đóng góp vật chất, sức lực, trí tuệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, cố kết không chặt chẽ và không thường xuyên hành động). Trong khi đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức quần chúng trực thuộc (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) cũng là các hội quần chúng tự nguyện, nhưng được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, quan hệ chặt chẽ và trực tiếp hơn với đảng cầm quyền, chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của đảng cầm quyền, làm nòng cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng. Hội, theo quan niệm của Việt Nam, không bao gồm Đảng chính trị và các tổ chức tôn giáo.

Hiện nay, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội chỉ điều chỉnh đối với những hội có tư cách pháp nhân, có hội viên. Các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; các tổ chức giáo hội không thuộc sự điều chỉnh của quy định về hội. Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam vẫn còn chưa thực sự đồng thuận với quan niệm này của các nhà làm luật. Một số ý kiến cho rằng hội nên được hiểu bao gồm các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu… (trừ các quỹ, trung tâm do hội lập ra), các tổ chức phi chính phủ hay không? Trong khi có tác giả cho rằng hội bao gồm cả hội có hội viên và hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu…) thì hầu hết các tác giả khác lại đề xuất khái niệm, đặc trưng của hội có thêm yếu tố là có hội viên.

Theo quan điểm của chúng tôi, khi xây dựng Luật về Hội thời gian tới cần phải có cách hiểu đầy đủ về hội. Nếu loại trừ các tổ chức phi chính phủ, quỹ, viện, trung tâm độc lập thì có lẽ đã loại trừ đi một số thành tố quan trọng của bất cứ một Xã hội dân sự nào. Bên cạnh đó, nếu vẫn xem Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các thành tố của hệ thống chính trị thì vẫn nên tạo điều kiện cho phép thành lập các hội, tổ chức có tính chất tương tự nếu có đủ điều kiện như Luật định. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về hội như sau: “Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất ba cá nhân hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng. Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp nhân”./.

Read the rest of this post »

Một nhành lá đã nhạt màu. Chẳng còn gì nguyên vẹn!

Đã đăng Tháng Năm 30, 2014 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Không phân loại

VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH VÀ QUYỀN PHẪU THUẬT CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TẠI VIỆT NAM

Đã đăng Tháng Năm 27, 2014 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hình sự

VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH VÀ QUYỀN PHẪU THUẬT CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH TẠI VIỆT NAM

Trương Hồng Quang*

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 năm 2014)

Tóm tắt:Bài viết làm rõ nội hàm các quyền xác định giới tính, quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính, quan niệm về người liên giới tính và người chuyển giới đồng thời đánh giá các quy định pháp luật dân sự hiện hành liên quan đến vấn đề này. Từ đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người liên giới tính và người chuyển giới tại Việt Nam thời gian tới.

1. Khái quát về quyền xác định giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Xác định giới tính và phẫu thuật chuyển đổi giới tính là những vấn đề đã và đang tồn tại trong xã hội hiện nay. Vậy liệu có phải hai quyền này là đồng nhất với nhau như quan niệm của nhiều người hay không?

Trước hết phải khẳng định rằng đây là hai vấn đề khác nhau, không đồng nhất. Quyền xác định giới tính liên quan đến nhóm người liên giới tính (intersex) còn quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính liên quan đến nhóm người chuyển giới (transgender). Người liên giới tính và người chuyển giới hoàn toàn khác nhau nhưng đều không phải là một bệnh lý.

Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) định nghĩa các trạng thái liên giới tính là “để chỉ tất cả những trạng thái dẫn đến sự phát triển không điển hình của các đặc điểm giới tính và sinh lý trên cơ thể. Những trạng thái này có thể liên quan đến những đặc điểm bất thường của các bộ phận sinh dục bên ngoài, các cơ quan sinh sản bên trong, nhiễm sắc thể giới tính, hoặc các hormone giới tính”[1]. Bên cạnh đó, Hội người Liên giới tính Bắc Mỹ định nghĩa rằng “Liên giới tính là một thuật ngữ tổng quát để chỉ chung các trạng thái mà khi đó, về mặt tính dục hay sinh sản, một người sinh ra với một cơ thể không có vẻ phù hợp với các định nghĩa thông thường về người nữ hay nam”[2]. Một số ví dụ về các trạng thái liên giới tính là: Read the rest of this post »

Tôi yêu Việt Nam :x

Đã đăng Tháng Năm 23, 2014 bởi Truong Hong Quang
Chuyên mục: Không phân loại

Tôi yêu Việt Nam :x