Posted tagged ‘luật dân sự’

Người chuyển giới: “Cửa” bao giờ sẽ mở?

Tháng Năm 23, 2015

Nhóm quyền LGBT là vấn đề còn gây tranh cãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, tại Việt Nam, rất có thể vấn đề này sẽ còn phải trải qua một thời gian dài nữa.

Trong bản báo cáo “Thành tựu và thách thức của Việt Nam trong bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới” nhân “Ngày IDAHOT 2015” (Ngày Quốc tế chống kỳ thị người đồng tính, song tính và người chuyển giới) đã có một kiến nghị liên quan tới quyền của riêng đối tượng người chuyển giới: Cần hợp pháp hóa việc chuyển giới ở Việt Nam nhằm bảo vệ quyền cũng như sức khỏe của người chuyển giới; Cần quy định “cá nhân là người thành niên có quyền chuyển giới theo quy định của pháp luật”; Cần cho phép người chuyển giới thay đổi giới tính và họ tên trên giấy tờ tùy thân…

Tại sao người chuyển giới lại không có những quyền nói trên và liệu “cánh cửa pháp lý” sẽ mở và khi nào sẽ mở? Tintuc.vn xin tiếp tục giới thiệu bài viết của Luật gia Trương Hồng Quang, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp về vấn đề này.

Nhóm quyền LGBT là vấn đề còn gây tranh cãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Thực tiễn pháp luật quốc tế, xu hướng của các quốc gia trên thế giới cũng như thực tiễn tại Việt Nam cho thấy hợp pháp hóa quyền chuyển đổi giới tính của người chuyển giới là một nhu cầu, một điều cần thiết tại Việt Nam hiện nay.

Thách thức cho quyền của người chuyển giới

Thời gian qua cũng có ý kiến lo ngại nếu cho phép chuyển đổi giới tính, có nhiều người (không phải là người chuyển giới) sẽ lạm dụng quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính nhằm thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, hoặc trốn tránh pháp luật (chẳng hạn như đối với tội phạm).

Song trên thực tế, việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính không thay đổi khuôn mặt (chỉ thay đổi nếu phẫu thuật thẩm mỹ). Và điểm rất quan trọng là dấu vân tay của người đó không thể thay đổi được. Hơn nữa, không phải muốn chuyển giới là được bởi nếu không phải là người chuyển giới sẽ khó vượt qua được quy trình chuyển đổi giới tính (kiểm tra đời sống thực – sống như giới tính mình mong muốn, tiêm hormone, phẫu thuật…). Trên thế giới, nhiều người chuyển giới cũng không vượt qua được quy trình này.

Tiến sĩ Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú của Liên hiệp quốc tại Việt Nam: “Không nên lấy lý do xã hội còn chưa hoàn toàn chấp thuận để biện hộ cho sự chậm trễ trong việc bảo vệ về mặt pháp lý quyền của LGBT”.
Phát biểu tại tọa đàm “Thành tựu và thách thức của Việt Nam trong bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới” tổ chức ngày 15/5/2015, Tiến sĩ Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam, nhấn mạnh:
“Không nên lấy lý do xã hội còn chưa hoàn toàn chấp thuận để biện hộ cho sự chậm trễ trong việc bảo vệ về mặt pháp lý quyền của LGBT. Ngược lại, một hệ thống luật pháp và hoạch định chính sách tiến bộ sẽ là nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy quyền của các nhóm yếu thế và tạo nên những thay đổi tích cực về mặt xã hội và văn hóa”.

Bên cạnh đó, những hệ quả lâu dài(giảm tuổi thọ, không có khả năng có con cái, tiêm hormone suốt đời…) có thể làm nhiều người chuyển giới e ngại, bỏ cuộc chứ chưa nói đến những người dị tính hay đồng tính. Chính vì vậy, sự lo ngại trên là không hợp lý.

Cũng có ý kiến cho rằng nếu thừa nhận việc chuyển giới thì sẽ gián tiếp thừa nhận hôn nhân cùng giới vì bản chất của họ vẫn là nam hoặc nữ chứ không phải giới tính sau khi phẫu thuật. Đây là một quan điểm chưa đúng đắn.

Bản chất của người chuyển giới phải là giới tính ngược với giới tính sinh học khi họ sinh ra. Nếu chúng ta thừa nhận quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính, cho phép họ thay đổi giấy tờ nhân thân thì chúng ta đã chính thức thừa nhận người chuyển giới, thừa nhận giới tính thực của họ. Khi đó, nếu một người kết hôn với một người có cùng giới tính với giới tính của họ trước khi phẫu thuật thì đó cũng không phải là kết hôn cùng giới bởi giới tính hiện tại của họ đã thay đổi. Không thể coi bản chất của họ vẫn là giới tính cũ được.

Phạm Lê Quỳnh Trâm (tên thật là Phạm Văn Hiệp) được xác định là người liên giới tính, và là người chuyển giới Việt Nam đầu tiên được xác định là giới tính từ Nam sang Nữ.

Pháp luật dân sự hiện hành (cũng như dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi) đã ghi nhận quyền xác định lại giới tính của người có khuyết tật bẩm sinh về cơ thể(người liên giới tính – intersex) (như trường hợp cô giáo Phạm Lê Quỳnh Trâm trong bài viết Quyền cho người LGBT và những “lỗ hổng pháp lý”?). Theo đó, Nhà nước không chỉ ghi nhận quyền của những người có khuyết tật bẩm sinh về cơ thể, mà còn cần phải ghi nhận mong muốn chính đáng của những người chuyển giới.

Quy định về quyền nhân thân này của người chuyển giới cũng giúp mọi người hiểu được sự khác nhau giữa họ và người liên giới tính. Bản thân người liên giới tính cũng chỉ chiếm số ít trong xã hội giống như người chuyển giới, nên không có lý do gì không công nhận quyền tương tự của người chuyển giới. Người liên giới tính hay người chuyển giới đều là những điều tự nhiên của xã hội, không xuất phát từ ý chí chủ quan của người đó nên không gây hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn xã hội. Do đó, họ phải có các quyền nhân thân đầy đủ.

Khoảng trống pháp lý sẽ được lấp đầy?

Có thể nói, việc dự thảo Bộ luật dân sự ghi nhận thành hai phương án (cho phép hoặc không thừa nhận phẫu thuật chuyển giới) đã là một bước tiến về nhận thức trong xây dựng pháp luật hiện nay. Điều này cũng xuất phát từ sự tác động, vận động mạnh mẽ của các tổ chức bảo vệ quyền LGBT Việt Nam thời gian qua. Thực sự, các tổ chức xã hội ngày càng tham gia tích cực vào quá trình xây dựng pháp luật tại Việt Nam.

Hà Duy là một người chuyển giới, tiêm hormone được hơn 1 năm. Cậu phải nhờ bạn mua và tiêm cho. Mặc dù biết gặp rất nhiều rủi ro, song Duy vẫn quyết tâm thực hiện mong muốn “trở lại đúng con người thật của mình”. Cậu cũng đã từng gặp một số rắc rối liên quan đến giấy tờ khi tên trong khai sinh là nữ, nhưng dáng vẻ bên ngoài hiện giờ là một cậu con trai.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã bỏ điều khoản cấm hôn nhân cùng giới (chuyển sang “không thừa nhận”).

Chính phủ Việt Nam đã chấp nhận một kiến nghị của Chile trong Phiên kiểm định định kỳ phổ quát về nhân quyền (UPR) tháng 6/2014 để xây dựng một Luật chống kỳ thị và phân biệt đối xử, bao gồm cả trên bản dạng giới và xu hướng tính dục.

Việt Nam cũng bỏ phiếu thuận cho việc thông qua một Nghị quyết của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới vào tháng 9/2014.

(Nguồn: iSEE)

Như đã nêu ở trên, nhóm quyền LGBT là vấn đề còn gây tranh cãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, tại Việt Nam, rất có thể vấn đề này sẽ còn phải trải qua một thời gian dài nữa. Chỉ riêng việc các vấn đề về quyền LGBT được đưa ra tranh luận, đánh giá tại Việt Nam đã là một điều tích cực.

Bên cạnh quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính, cần sớm có những thay đổi về mặt chính sách, pháp luật khác liên quan đến pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, bảo vệ quyền dân sự, tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý, bạo lực gia đình… để góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người LGBT nói chung và người chuyển giới nói riêng tại Việt Nam. Đây là những vấn đề thiết thực và có thể sửa đổi ngay trong thời điểm hiện tại.

Trong lần sửa đổi Bộ luật dân sự này, tôi cho rằng vấn đề người chuyển giới được thừa nhận, được thực hiện quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính là tương đối khó khăn. Xét một cách toàn diện, vấn đề quyền của nhóm LGBT mặc dù được đề cập đến nhiều trong vài năm gần đây nhưng thực chất cũng vẫn là vấn đề còn mới tại Việt Nam (và ngay cả nhiều quốc gia trên thế giới).

Có thể người chuyển giới ngày càng bộc lộ bản thân, xuất hiện nhiều hơn trong xã hội, nhưng trong tiến trình xây dựng pháp luật thì họ vẫn còn là vấn đề mới phát sinh về quyền con người. Hơn nữa, cách thức xây dựng pháp luật của nước ta thời gian qua thường có xu hướng ghi nhận những vấn đề đã phổ biến trong xã hội, ít dư luận trái chiều. Do vậy, quá trình vận động quyền của người LGBT Việt Nam nói chung và quyền của người chuyển giới nói riêng sẽ phải tiếp tục sâu rộng và mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

Tôi luôn tin giá trị nhân văn của pháp luật sẽ tiếp tục được bồi đắp. Tạo ra một xã hội bình đẳng giữa các công dân chính là một giá trị nhân văn của pháp luật. Xã hội văn minh nhất là xã hội có một nền pháp luật chan chứa tình người, có cái gốc nhân bản bền vững.

(more…)

Advertisements

Về quyền nhân thân của người liên giới tính và người chuyển giới

Tháng Một 20, 2015

(Chinhphu.vn)Đánh giá một cách khách quan, so với các dự thảo trước đây, Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có một bước tiến bộ khi quy định thành hai phương án đối với đối tượng người chuyển giới.

Cân nhắc phẫu thuật xác định giới tính cho người dưới 18 tuổi

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có một bước tiến bộ khi quy định thành hai phương án đối với đối tượng người chuyển giới.

Tuy vậy, việc quy định hai loại quyền xác định lại giới tính và quyền của người chuyển giới trong một điều luật (Điều 40 của Dự thảo) còn khiên cưỡng. Bản thân quyền “xác định lại giới tính” là dành cho người liên giới tính (người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính, không thể định hình rõ mang giới tính nào…), còn quyền chuyển giới, phẫu thuật chuyển đổi giới tính là của người chuyển giới (sinh ra có giới tính sinh học rõ ràng nhưng có mong muốn, nhu cầu được chuyển đổi giới tính).

Cách dùng từ “xác định lại giới tính” cũng không thực sự chính xác. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Một cách gián tiếp, điều này đặt ra một quan điểm áp đặt những gì không điển hình nên phải “xác định lại” để trở nên giống như số đông.

Chính vì vậy, người viết bài này đề nghị điều luật chỉ nên dùng cụm từ “Quyền xác định giới tính”. Bên cạnh đó, nội dung điều luật cũng nên minh định rõ quyền này được áp dụng cho người liên giới tính.

Khoản 2 Điều 40 của Dự thảo quy định “Người đại diện theo pháp luật chỉ có quyền yêu cầu xác định lại giới tính của người chưa thành niên…”. Theo ý kiến người viết, nên cân nhắc quy định việc tiến hành phẫu thuật xác định giới tính, không nên áp dụng cho đối tượng dưới 18 tuổi (chưa thành niên). Hãy để cho người đó tự quyết định về giới tính, về bản thân con người mình.

Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người liên giới tính từ bé được bố mẹ đưa đi phẫu thuật xác định giới tính nhưng sau khi lớn lên họ không hài lòng với giới tính được xác định nên đã đi phẫu thuật lại. Đây cũng là khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế về người liên giới tính, theo đó việc phẫu thuật đối với người liên giới tính chỉ nên được thực hiện khi người đó đã trưởng thành, được cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan để đưa ra một quyết định cho bản thân. (more…)

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VỀ XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

Tháng Bảy 23, 2009

Chương III

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT VỀ XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, để công nhận quyền được chết là một vấn đề lâu dài. Phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối điều này. Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần vào những quan điểm chống lại an tử hiện nay. Điều cần làm bây giờ là thay đổi những quan niệm, những cách nhìn nhận sai lầm về quyền được chết và cái chết êm ả chứ không phải cố gắng ban hành Luật An tử trong điều kiện chưa phù hợp như hiện nay.

I. ĐÁNH GIÁ VỀ XU HƯỚNG XÂY DỰNG LUẬT AN TỬ Ở VIỆT NAM

1. Một vấn đề còn nằm trong tương lai

Như đã phân tích ở các chương trên, việc nhìn nhận vấn đề chấp nhận quyền được chết ở Việt Nam còn trong tương lai là đúng đắn. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã có những yếu tố và điều kiện ban đầu cho việc xây dựng Luật An tử. Khi Việt Nam đưa quyền được chết vào dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự 2005 tại Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ 6 và 7) là đã bắt đầu cho một hành trình mới: xây dựng Luật An tử. Tuy quyền được chết chưa được thông qua tại kỳ họp này nhưng cũng là sự kiện đóng vai trò ghi dấu mốc đầu tiên cho hành trình này. Thiết nghĩ, xây dựng Luật An tử là xu hướng chung của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Tất cả còn phụ thuộc chủ yếu về mặt thời gian: thích hợp hay chưa thích hợp.

Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người dân. Tuy nhiên, có phải vì thế mà quyền được chết sẽ vĩnh viễn không được công nhận hay không? Không, chắc chắn là không phải như thế. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng thoáng hơn phương Đông thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Còn ở phương Đông, vấn đề không chỉ dừng lại như thế. Làn sóng tư tưởng phương Tây ngày càng tràn vào Châu Á như vũ bão. Thế giới đã thay đổi, hòa nhập hay hòa tan vào dòng chảy toàn cầu hóa đang là bức xúc của nhiều quốc gia. Tuy vậy, quan niệm truyền thống cũng khó mà thay đổi ngay trước những tác động này, chí ít là ở thời điểm hiện tại. Do đó, phong tục, tập quán luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu khi xem xét quyền được chết.

(more…)

TÌNH HÌNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tháng Bảy 23, 2009

Chương II

TÌNH HÌNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Với những vấn đề được trình bày ở chương I, chúng ta chỉ mới biết được các khái niệm ban đầu về quyền được chết và các vấn đề liên quan. Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau trong giới khoa học, đa phần chống lại an tử. Tại sao nước này quy định mà nước khác lại không quy định? Quan điểm của họ như thế nào?

I. QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1. Các quốc gia đã hợp pháp hóa quyền được chết và Luật An tử

Hà Lan đã đi vào lịch sử là Quốc gia đầu tiên áp dụng đạo Luật “cái chết êm ả”. Tháng 11 năm 2000, Hạ Viện Hà Lan đã thông qua dự Luật An tử. Đến ngày 10 tháng 04 năm 2001, với tỷ lệ áp đảo 46/28, Thượng viện Hà Lan đã bỏ phiếu thông qua đạo luật. Trước đó hơn 2 thập kỷ, các bác sỹ Hà Lan đã áp dụng phương pháp “cái chết êm ả” để giúp những người bệnh nặng ra đi. Việc thông qua đạo luật năm 2001 chỉ nhằm hợp pháp hóa một thực tế đã được chấp nhận, nhất là từ khi có bản hướng dẫn “cái chết hỗ trợ” được phác thảo vào năm 1993. Điều tra toàn quốc cho thấy gần 90% người dân nước này ủng hộ Luật An tử vì nó đảm bảo quyền cá nhân[1]. Năm 2006, Hà Lan còn cho phép an tử đối với trẻ em, trẻ sơ sinh mắc bệnh nặng không thể cứu chữa.

(more…)

Những vấn đề lý luận chung về Quyền được chết

Tháng Bảy 23, 2009

Chương 1 của đề tài “Một số vấn đề về Quyền được chết đối với quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam hiện nay” của Trương Hồng Quang, Cựu SV Khóa 30, ĐH Luật HN, đoạt giải cấp Bộ Cuộc thi Sinh viên Nghiên cứu khoa học năm 2007.

————————————–

MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn

Chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo và toàn cầu hóa đang làm thay đổi bộ mặt chung của thực tại

Ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ trong gang tấc.

Quyền được sống? Bình thường, dễ hiểu. Quyền được chết? Còn rất mới mẻ và xa lạ. Quyền được chết là một vấn đề còn để mở, bao hàm trong nó nhiều quan niệm khác nhau, đa phần là chống lại. Nó không chỉ còn là vấn đề của y học mà còn thuộc về chính trị, văn hóa, xã hội… Luật pháp xuất phát từ cuộc sống. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản. Do đó, đôi khi luật dễ làm mà lại khó thực hiện. Nên gắn quyền được chết như là một quyền cơ bản của cá nhân và phải được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như các quyền cơ bản khác. Chỉ khi nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật pháp và xã hội thì quyền được chết mới trở thành một vấn đề như bao vấn đề khác. Nếu không, sẽ mãi chỉ là đặc biệt và phức tạp…

Tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về quyền được chết. Người dân Việt hầu hết còn xa lạ với khái niệm này hoặc chỉ nghe mà chưa hiểu hết. Bên cạnh đó, truyền thống Á Đông đang chi phối từng ngày, từng giờ. Do vậy, công trình muốn góp phần tìm hiểu về quyền được chết hiện nay  với mong muốn quyền được chết sẽ không còn xa lạ với mọi người, để mọi người hiểu rõ được bản chất của “cái chết êm ả”. Bên cạnh đó, công trình đề cập đến một số vấn đề trong quá trình xây dựng Luật An tử ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định ở Việt Nam và trên thế giới theo hai hướng chấp nhận và không chấp nhận quyền được chết, đặc biệt là các quốc gia đã hợp pháp hóa Luật An tử với phương pháp: tổng hợp, so sánh và rút ra quan điểm riên. Những tiếp xúc ban đầu bao giờ cũng mở ra chân trời mới. Có thể nó không thay đổi được một quan niệm cũ nhưng lại làm cho cái cũ chấp nhận cái mới. Quyền được chết  là phải như thế, không thể khác.

(more…)